Yên Bái: Phát huy thành tựu sự nghiệp trồng người, tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, xây dựng trường học hạnh phúc, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong thời gian tới

Cập nhật: 23/09/2021 08:34

Trong buổi nói chuyện với nhân dân Yên Bái ngày 25/9/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Muốn cho dân giàu nước mạnh, mọi người phải biết chữ, có văn hóa mới làm được việc. Bộ Giáo dục sẽ cử thêm giáo viên lên giúp tỉnh để vài năm tới tỉnh xóa được nạn mù chữ…”. Đúng như lời của Người, năm 1959, Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi giáo viên miền xuôi lên phục vụ miền núi.

Ngày 15/8/1959, Phó Thủ tướng Chính phủ ký công văn điều động giáo viên cấp 1,2,3 lên công tác tại các tỉnh miền núi trong đó có Nghĩa Lộ, Yên Bái, Lao Cai… Kể từ mùa thu ấy, hàng nghìn thầy cô giáo từ các tỉnh miền xuôi đã chia tay gia đình, bạn bè, quê hương lên đường tình nguyện phục vụ sự nghiệp giáo dục vùng cao Tây Bắc. Các thầy cô lấy miền núi làm quê hương thứ hai, coi đồng bào các dân tộc thiểu số như anh em ruột thịt và không chỉ góp phần “xóa được nạn mù chữ” như mong muốn của Bác mà còn đặt nền móng phát triển cho giáo dục và đào tạo miền núi hôm nay.

Giáo viên Trường TH&THCS Xuân Tầm, huyện Văn Yên tới từng nhà vận động học sinh ra lớp.

Những năm tháng chiến tranh đã tác động trực tiếp, mạnh mẽ vào ngành giáo dục, dẫn đến sự xuống cấp của hệ thống các nhà trường tại cả ba tỉnh Nghĩa Lộ, Lào Cai, Yên Bái. Ngày 27/12/1975, tỉnh Hoàng Liên Sơn được thành lập. Việc củng cố, sắp xếp mạng lưới trường, lớp chưa kịp ổn định thì lại bùng nổ chiến tranh biên giới phía Bắc tháng 2/1979. Trong tình hình chung của tỉnh, sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã khó khăn lại càng khó khăn hơn. Tuy nhiên, từ sau Đại hội khoá VI (12/1986) của Đảng, cùng với công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế – xã hội, sự nghiệp giáo dục Hoàng Liên Sơn đã có những khởi sắc: mạng lưới giáo dục phát triển rộng khắp ở các địa bàn; cơ sở vật chất, thiết bị dạy học được bổ sung; đội ngũ cán bộ, nhà giáo được tăng cường, bồi dưỡng chuyên môn, nâng cao trình độ; kết quả học tập của học sinh ngày một nâng cao. Công tác giáo dục và đào tạo đã phát triển vững vàng, xứng đáng với sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, Chính quyền.

Ngày 01/10/1991, tỉnh Yên Bái được tái lập theo Nghị quyết của kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VIII. Ở thời điểm mới tái lập tỉnh, đời sống của nhân dân các dân tộc còn nhiều khó khăn; hệ thống giáo dục, quy mô, mạng lưới trường, lớp còn nhiều bất cập. Năm học 1991-1992, toàn tỉnh có 340 trường, trên 5.100 lớp, trên 125.000 học sinh, trên 8.100 giáo viên; 62 xã trắng về giáo dục mầm non; hầu hết các trường vùng cao mới chỉ có đến lớp 2, lớp 3; toàn tỉnh chỉ có 4.120 phòng học trong đó hơn 60% là số phòng học tạm. Tỷ lệ huy động trẻ đến trường thấp: tỷ lệ huy động trẻ nhà trẻ đạt 9,2%, trẻ mẫu giáo đạt 22,9%; tỷ lệ huy động trẻ 6 tuổi đi học đạt từ 75-79%, số trẻ ra lớp học đúng độ tuổi chỉ đạt 68%; số học sinh trung học cơ sở chỉ bằng 56,6% học sinh của năm 1984-1985. Tỷ lệ học đi học chuyên cần rất thấp, số học sinh bỏ học nhiều: cấp tiểu học là 12%, riêng các lớp 1 là 13,6%; cấp trung học là 22,6% (thậm chí số học sinh bỏ học của cả 4 lớp trung học cơ sở nhiều hơn số mới tuyển vào lớp 6); cấp trung học phổ thông là 14,2%. Toàn tỉnh lúc này chỉ có 04 trường phổ thông dân tộc nội trú (01 trường trung học phổ thông, 03 trường trung học cơ sở ở các huyện Văn Chấn, Trạm Tấu và Mù Cang Chải); các điều kiện phục vụ dạy học và chế độ tại các trường hết sức khó khăn.

Quán triệt quan điểm giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng để phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Yên Bái đã đổi mới cách làm, tự lực, tự cường, năng động, sáng tạo, cụ thể hóa đường lối đổi mới vào thực tiễn địa phương; khai thác mọi tiềm năng, thế mạnh sẵn có, huy động mọi nguồn lực cho sự phát triển giáo dục và đào tạo. Toàn ngành đã nỗ lực, quyết tâm vượt qua những khó khăn, thách thức để đưa sự nghiệp giáo dục và đào tạo tỉnh Yên Bái có những chuyển biến căn bản và toàn diện theo hướng hiện đại, là cơ sở để nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo, phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.

Đến nay, quy mô, mạng lưới trường, lớp học từ giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp được mở rộng tới tất cả các xã, phường, thị trấn. Một số vùng thuận lợi đã phát triển loại hình trường ngoài công lập, tư thục. Đặc biệt, sau khi thực hiện Đề án sắp xếp quy mô, mạng lưới trường lớp đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông giai đoạn 2016-2020, hệ thống trường lớp được sắp xếp phù hợp, tinh gọn và hiệu quả; tạo điều kiện đưa học sinh từ các điểm lẻ về điểm trường chính, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Năm học 2021-2022, toàn tỉnh có 466 cơ sở giáo dục; trong đó có 04 trường cao đẳng, 02 trường trung cấp nghề, 07 trung tâm giáo dục thường xuyên, 01 trung tâm tin học và 09 trung tâm ngoại ngữ ngoài công lập, 443 cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông với quy mô trên 6.800 lớp, trên 221.000 học sinh, học viên. So với ngày đầu tái lập, tăng hơn 100 trường, 1.700 lớp, 96.000 học sinh.

Công tác xây dựng đội ngũ được đầu tư thích đáng. Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên các bậc học được bổ sung kịp thời đảm bảo về số lượng; công tác đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ; giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống được chú trọng đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo. Các chế độ, chính sách về lương, các khoản phụ cấp được thực hiện đầy đủ, minh bạch, kịp thời. Hiện tại, toàn ngành có trên 13.000 lao động, tăng gần 5.000 người so với ngày tái lập; trong đó 79,4% cán bộ quản lý, giáo viên có trình độ đạt chuẩn trở lên, 20,4% trên chuẩn, trên 400 cán bộ, giáo viên có trình độ thạc sỹ, tiến sỹ.

Cơ sở vật chất trường, lớp học tiếp tục được đầu tư theo hướng chuẩn hóa và hiện đại hóa. Các phòng học, nhà công vụ được đầu tư xây dựng đảm bảo điều kiện hoạt động; các phòng học tương tác, phòng học thông minh, phòng học bộ môn, thiết bị dạy học, thiết bị ứng dụng công nghệ cao được quan tâm đầu tư, nhất là các trường đạt chuẩn quốc gia. Tỉnh cũng đã huy động được các tổ chức xã hội, cá nhân tham gia xây dựng, sửa chữa phòng học, nhà công vụ, ký túc xá. Riêng giai đoạn 2016-2020, tổng vốn đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị đạt trên 652 tỷ đồng và huy động, xã hội hóa được 114 tỷ đồng. Đến nay, toàn tỉnh có gần 6.500 phòng học của giáo dục mầm non, phổ thông, tỷ lệ kiên cố đạt 84%, tỷ lệ phòng học tạm còn 3,4%; so với ngày đầu tái lập tăng gần 2.400 phòng, tỷ lệ phòng học tạm giảm 56,6%; trong đó, có gần 1.000 phòng học tương tác, phòng học thông minh; trên 600 phòng học bộ môn.

Chất lượng giáo dục toàn diện từng bước được nâng lên. Các hoạt động giáo dục cơ bản chuyển từ trang bị kiến thức sang phát triển năng lực và phẩm chất người học; giáo dục kỹ năng sống, các hoạt động trải nghiệm sáng tạo được chú trọng theo hướng thiết thực, hiệu quả. Tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông, tỷ lệ học sinh đỗ vào các trường đại học liên tục tăng cao; nhiều học sinh đã đỗ thủ khoa trong các kỳ thi tuyển sinh vào đại học, cao đẳng. Công tác giáo dục mũi nhọn được nâng cao về số lượng, chất lượng và phát triển bền vững. Chỉ tính riêng giai đoạn 2015-2020, Yên Bái có gần 3.000 lượt học sinh đoạt giải trong các kỳ thi chọn học sinh giỏi các môn văn hoá cấp tỉnh, cấp quốc gia và hội thi sáng tạo khoa học kỹ thuật toàn quốc. Đặc biệt, năm 2015, Yên Bái có 01 học sinh đạt Bằng khen trong kỳ thi Olympic Vật lý Châu Á; năm 2019, có 01 học sinh đoạt huy chương Bạc trong kỳ thi Olympic Hoá học Quốc tế.

Công tác giáo dục dân tộc có những chuyển biến mạnh mẽ. Quy mô, số lượng các trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú được tăng cường, tạo điều kiện học tập tốt nhất cho học sinh vùng cao, vùng đồng dân tộc; tạo sự công bằng trong giáo dục, tạo nên bước ngoặt quan trọng của sự phát triển giáo dục vùng cao; khắc phục được tình trạng học sinh bỏ học, học sinh đi học không chuyên cần (không còn học sinh tiểu học bỏ học); góp phần đào tạo nhân lực cho vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn. Toàn tỉnh hiện có 9 trường phổ thông dân tộc nội trú, 43 trường phổ thông dân tộc bán trú, 55 trường có học sinh bán trú được hưởng chính sách hỗ trợ của Nhà nước nâng tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số được hưởng chính sách nội trú, bán trú lên gần 40%, tỷ lệ học sinh trung học người dân tộc thiểu số được học tại các trường phổ thông dân tộc nội trú lên 7,3%. Chất lượng giáo dục dân tộc, vùng cao cũng từng bước được nâng lên.

Công tác phổ cập giáo dục, xóa mù chữ được duy trì, nâng cao theo hướng bền vững. Hệ thống trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên, trung tâm học tập cộng đồng được quan tâm chỉ đạo, hoạt động hiệu quả với hình thức học tập đa dạng, phù hợp với điều kiện, nhu cầu học tập của cán bộ, nhân dân ở từng thôn, bản góp phần nâng cao dân trí và xây dựng xã hội học tập. Công tác phân luồng học sinh luôn được triển khai có hiệu quả, là cơ sở để nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo toàn tỉnh lên 63%, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp. Hàng năm, trên 20% học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở vào học trung cấp, học nghề; 40% học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông vào học cao đẳng, trung cấp, học nghề. Công tác phổ cập giáo dục đạt kết quả tốt, đúng lộ trình: năm 1997, tỉnh đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học; năm 2007 đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở; năm 2009 đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; năm 2015 đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi.

Công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia đã được tỉnh hết sức quan tâm, huy động cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở vào cuộc. Toàn tỉnh hiện có 263/443 trường mầm non, phổ thông được công nhận trường chuẩn quốc gia, đạt 59,4%. Một diện mạo mới được hình thành tại các trường chuẩn quốc gia: quy mô trường lớp được tổ chức khoa học; cơ sở vật chất được đầu tư khang trang, theo hướng hiện đại; môi trường sư phạm được cải thiện, sạch đẹp, an toàn; đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên được đào tạo, bồi dưỡng và sắp xếp hợp lý; chất lượng dạy học được nâng cao,… Công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia đã góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và triển khai sâu rộng, thiết thực phong trào thi đua “Yên Bái chung sức xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, góp phần hoàn thành Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Yên Bái giai đoạn 2010 – 2020.

Có thể nói, kết quả của 30 năm xây dựng, phát triển này là tiền đề, động lực quan trọng đồng thời giúp ngành giáo dục và đào tạo Yên Bái rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu cho những năm tiếp theo.

Trước hết, phải làm tốt công tác tham mưu với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành hệ thống văn bản tạo hành lang pháp lý, cơ chế thuận lợi phát triển giáo dục và đào tạo phù hợp với thực tiễn của địa phương. Thực hiện tốt công tác phối hợp với các ban, sở, ngành, đoàn thể của tỉnh, cấp ủy, chính quyền địa phương để huy động sự vào cuộc của toàn xã hội. Đẩy mạnh công tác truyền thông nhằm tạo cầu nối, sự đồng thuận để nhân dân chăm lo cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo.

Thứ hai, toàn ngành cần phát huy nội lực, tích cực, năng động, sáng tạo, vượt khó để xây dựng một nền giáo dục và đào tạo phù hợp với thực tiễn địa phương, có sự phát triển vượt bậc, đóng góp những thành quả to lớn cho công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.

Thứ ba, cần xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên có trình độ chuyên môn, có ý thức tự học, có đạo đức nghề nghiệp, tinh thần trách nhiệm cao và tâm huyết với nghề. Đặc biệt, phát huy vai trò, trách nhiệm, sự chủ động, sáng tạo và phương pháp làm việc khoa học của người đứng đầu trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành, xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch.

Thứ tư, trong điều kiện ngân sách nhà nước còn khó khăn, ngành giáo dục và đào tạo phải làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục để huy động mọi nguồn lực đầu tư phát triển giáo dục; khuyến khích phát triển cơ sở giáo dục ngoài công lập.

Thứ năm, triển khai thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh phải gắn với các phong trào thi đua, các cuộc vận động của ngành giáo dục và đào tạo. Thực hiện tốt công tác thi đua, khen thưởng để động viên kịp thời và tạo động lực phấn đấu cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh, sinh viên.

Bên cạnh những thành tựu phát triển vượt bậc, Giáo dục Yên Bái vẫn còn một số tồn tại, hạn chế: có sự cách biệt về chất lượng giáo dục giữa vùng thấp với vùng cao, vùng đồng bào dân tộc; tỷ lệ huy động trẻ nhà trẻ ra lớp còn thấp; công tác phân luồng chưa bền vững; cơ cấu ngành nghề đào tạo còn bất hợp lý, chất lượng giáo dục nghề nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động, yêu cầu về nguồn nhân lực của tỉnh.

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả và đảm bảo công bằng trong giáo dục và đào tạo, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XIX đã đặt ra mục tiêu: nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát huy giá trị, bản sắc văn hóa và xây dựng con người Yên Bái “thân thiện, nhân ái, đoàn kết, sáng tạo, hội nhập” phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội nhanh, bền vững theo hướng “xanh, hài hòa, bản sắc và hạnh phúc”, đưa Yên Bái trở thành tỉnh khá vào năm 2025. Để Nghị quyết đi vào cuộc sống, ngành giáo dục và đào tạo Yên Bái sẽ tập trung vào một số nhiệm vụ, giải pháp cụ thể:

Một là, quán triệt sâu rộng trong toàn ngành quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết 29-NQ/TW; Nghị quyết số 88/2014/QH13 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa; Nghị quyết Đại hội lần thứ XIX của Đảng bộ tỉnh và Nghị quyết số 22-NQ/TU ngày 20/01/2021 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIX. Tuyên truyền, nâng cao nhận thức về Trường học hạnh phúc; xây dựng môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, phòng chống bạo lực học đường.

Hai là, tiếp tục sắp xếp quy mô, mạng lưới trường lớp; tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học; từng bước đầu tư các thiết bị tiên tiến để thực hiện phương pháp giáo dục hiện đại, đặc biệt với các trường trong lộ trình xây dựng trường chuẩn quốc gia, gắn với chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất cho hệ thống trường nội trú, bán trú. Phát triển Trường Trung học phổ thông Chuyên Nguyễn Tất Thành thành trường có thứ hạng cao trong hệ thống các trường chuyên của cả nước.

Ba là, đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ nội dung, hình thức, phương pháp dạy học theo hướng phát triển toàn diện phẩm chất, năng lực người học, phát huy tính tích cực, chủ động, năng lực sáng tạo của học sinh. Chú trọng giáo dục lý tưởng, bồi đắp “đức, trí, thể, mỹ” gắn với giữ gìn, phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống và xây dựng con người Yên Bái “thân thiện, nhân ái, đoàn kết, sáng tạo, hội nhập”. Tiếp tục thực hiện tốt việc cam kết, bàn giao chất lượng; tập trung nâng cao chất lượng dạy học các môn Tin học, ngoại ngữ. Đổi mới căn bản hình thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực phù hợp với Chương trình giáo dục phổ thông 2018.

Bốn là, tiếp tục rà soát, đánh giá đội ngũ cán bộ quản lý, nhà giáo để sắp xếp đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, chuẩn về trình độ, năng lực. Chú trọng bồi dưỡng phương pháp, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực tư duy sáng tạo, khả năng nghiên cứu khoa học, trình độ ngoại ngữ, công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

Năm là, tập trung xây dựng “trường học hạnh phúc”, hướng tới xây dựng môi trường giáo dục không có bạo lực học đường, học sinh được đối xử thân thiện, được phát triển tối đa năng lực, được tôn trọng; giáo viên được sáng tạo, đổi mới phương pháp dạy học, được dân chủ đóng góp ý kiến; các nhà trường tạo dựng chất lượng một cách thực chất, lấy chỉ số hạnh phúc và chỉ số tiến bộ của mỗi học trò làm thước đo chất lượng giáo dục.

Sáu là, đẩy mạnh chương trình chuyển đổi số trong quản lý, chỉ đạo, điều hành, dạy học; triển khai mô hình giáo dục điện tử trên hệ thống phần mềm giáo dục thông minh gắn với Đề án đô thị thông minh của tỉnh Yên Bái; đẩy mạnh triển khai lớp học kết nối, lớp học chia sẻ trên internet, ưu tiên kết nối giữa các lớp, các trường trên địa bàn tỉnh.

Để tiếp tục có những bước đột phá, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập, đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 ngành giáo dục và đào tạo trân trọng cảm ơn và rất mong tiếp tục nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh, sự giúp đỡ của các cấp, các ngành và sự ủng hộ của toàn xã hội.

Tin liên quan

- Cập nhật: 25/11/2021 15:38
- Cập nhật: 25/11/2021 15:37
- Cập nhật: 25/11/2021 15:33
- Cập nhật: 25/11/2021 15:31
- Cập nhật: 25/11/2021 15:25
Săn ưu đãi chính hãng lên tới 50%++ tại Ngày hội mua sắm Vincom Black Friday - Cập nhật: 25/11/2021 11:55
Vinamilk: 15 năm xây hệ thống trang trại bò sữa với “bộ sưu tập” tiêu chuẩn quốc tế - Cập nhật: 23/11/2021 22:33
Vinamilk được vinh danh nhiều giải thưởng quốc tế cho các chương trình vì xã hội - Cập nhật: 23/11/2021 16:40
- Cập nhật: 21/11/2021 12:12
- Cập nhật: 21/11/2021 12:09