Đặt vấn đề
Trong một số tội danh [1], việc xác định hành vi khách quan có thể phải dựa vào các quy định pháp luật chuyên ngành [2] được viện dẫn trong Bộ luật Hình sự.
Vấn đề trở nên phức tạp khi quy định pháp luật chuyên ngành được sử dụng để xác định hành vi phạm tội thuộc văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) có hiệu lực pháp lý thấp hơn và có dấu hiệu trái với văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn (trong bài viết gọi là “quy định có dấu hiệu trái với văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn”) [3].
Ảnh minh họa.
Pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật đã thiết lập nguyên tắc khi văn bản QPPL có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn và cơ chế kiểm tra, xử lý văn bản trái pháp luật. Tuy nhiên, việc phát hiện một quy định có dấu hiệu trái với văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn không đồng nghĩa với việc quy định đó đã được xác định là trái pháp luật. Việc kiểm tra, xử lý vẫn phải được thực hiện bởi chủ thể có thẩm quyền theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định.
Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành (BLTTHS) cũng đã dự liệu trường hợp Tòa án phát hiện, kiến nghị xử lý văn bản pháp luật [4] và tạm đình chỉ vụ án trong thời gian chờ kết quả xử lý. Tuy nhiên, cơ chế này mới được ghi nhận tại giai đoạn xét xử.
Từ đó, đặt ra vấn đề về cách thức kết nối giữa việc kiểm tra, xử lý văn bản và quá trình giải quyết vụ án hình sự. Bài viết tập trung làm rõ vấn đề này và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
1. Khi quy định có dấu hiệu trái với văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn được sử dụng để xác định hành vi phạm tội
Trong một số tội danh, Bộ luật Hình sự không trực tiếp mô tả đầy đủ nội dung của hành vi mà sử dụng các cấu trúc như “vi phạm quy định về quản lý…”, “vi phạm quy định của pháp luật…”, “trái quy định…” hoặc “trái công vụ…”. Cấu trúc này có thể gặp trong một loạt các nhóm tội liên quan đến đấu thầu, đất đai, xây dựng, môi trường, giao thông và các lĩnh vực khác. Khi đó, quy định pháp luật chuyên ngành sẽ được sử dụng để xác định nội dung của hành vi bị coi là tội phạm.
Các quy định pháp luật chuyên ngành có thể được thể hiện trong nhiều loại văn bản QPPL có thứ bậc hiệu lực pháp lý khác nhau, như luật, nghị định, thông tư hoặc văn bản QPPL của chính quyền địa phương. Do đó, có thể phát sinh trường hợp quy định được sử dụng để xác định nội dung hành vi thuộc văn bản có hiệu lực pháp lý thấp hơn và có dấu hiệu trái với văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn. Dấu hiệu này có thể được nhận diện khi quy định ở văn bản có hiệu lực pháp lý thấp hơn mở rộng phạm vi cấm, nghĩa vụ, điều kiện hoặc giới hạn pháp lý mà văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn không đặt ra hoặc không trao thẩm quyền đặt ra.
Có thể hình dung trường hợp nghị định chỉ đặt ra nghĩa vụ A và không trao thẩm quyền đặt thêm nghĩa vụ, nhưng thông tư mở rộng thành nghĩa vụ A và B; trong khi quy định của Bộ luật Hình sự về hành vi “vi phạm quy định về…” được áp dụng để xử lý hành vi không thực hiện nghĩa vụ B. Khi đó, để xác định hành vi “không thực hiện nghĩa vụ B” có thuộc phạm vi điều chỉnh của điều luật hình sự hay không, cần xem xét nghĩa vụ B này có được đặt ra phù hợp với văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn là nghị định hay không.
Đây cũng là điểm cần phân biệt giữa việc xác định nội dung của hành vi theo quy định được dẫn chiếu và việc xác định tính hợp pháp của chính quy định đó. Cơ quan tiến hành tố tụng có thể phát hiện quy định được sử dụng để xác định hành vi có dấu hiệu trái với văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn, nhưng việc xác định quy định đó có thực sự trái pháp luật hay không vẫn phải được thực hiện theo cơ chế và thẩm quyền kiểm tra, xử lý văn bản do pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật quy định.
Vì vậy, khi một quy định có dấu hiệu trái với văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn được sử dụng để xác định hành vi phạm tội, việc có áp dụng quy định đó hay không cần được đặt trong mối liên hệ với cơ chế kiểm tra, xử lý văn bản chứa quy định đó.
2. Một số vấn đề đặt ra trong kiểm tra, kết luận, xử lý văn bản và giải quyết vụ án hình sự
2.1. Phân biệt quyền phát hiện, kiến nghị, phản ánh với thẩm quyền kiểm tra, kết luận và xử lý văn bản
Đối với văn bản có dấu hiệu trái với văn bản QPPL có hiệu lực pháp lý cao hơn, cần phân biệt quyền phát hiện, kiến nghị, phản ánh với thẩm quyền kiểm tra, kết luận và xử lý văn bản. Pháp luật không trao cho một chủ thể duy nhất toàn bộ các thẩm quyền này.
Về phát hiện, kiến nghị, phản ánh: Bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào cũng có thể phát hiện, kiến nghị, phản ánh về văn bản có dấu hiệu trái pháp luật theo Điều 8 Nghị định số 79/2025/NĐ-CP. Cần lưu ý, về đối tượng kiểm tra, theo Điều 4 Nghị định số 79/2025/NĐ-CP, không bao gồm Hiến pháp, bộ luật, luật và nghị quyết của Quốc hội mà chỉ bao gồm các văn bản QPPL từ pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trở xuống.
Về kiểm tra: Được thực hiện theo hai cơ chế là tự kiểm tra văn bản QPPL và kiểm tra văn bản QPPL theo thẩm quyền, tương ứng với Mục 2 và Mục 3 Chương II Nghị định số 79/2025/NĐ-CP. Đối với tự kiểm tra, cơ quan, người đã ban hành hoặc liên tịch ban hành văn bản thực hiện việc tự kiểm tra theo quy định tại Điều 9, Điều 10, Điều 11 và Điều 12. Đối với kiểm tra theo thẩm quyền, Điều 14 và Điều 15 phân định thẩm quyền theo chủ thể ban hành, loại văn bản và, trong một số trường hợp, theo nội dung văn bản.
Về kết luận: Kết luận kiểm tra được đặt ra đối với cơ chế kiểm tra văn bản QPPL theo thẩm quyền theo Điều 18 Nghị định số 79/2025/NĐ-CP. Kết luận kiểm tra phải xác định văn bản, nội dung trái pháp luật và căn cứ pháp lý để xác định nội dung trái pháp luật; đồng thời yêu cầu cơ quan, người đã ban hành văn bản thực hiện việc xử lý. Đối với cơ chế tự kiểm tra, pháp luật không quy định việc ban hành kết luận kiểm tra mà thực hiện Báo cáo kết quả tự kiểm tra văn bản theo khoản 4 Điều 12.
Về xử lý: Văn bản QPPL trái pháp luật được xử lý cả trong trường hợp được phát hiện qua tự kiểm tra và kiểm tra theo thẩm quyền. Đối với kiểm tra theo thẩm quyền, cơ quan, người đã ban hành văn bản có trách nhiệm xử lý sau khi nhận được kết luận kiểm tra; hình thức xử lý gồm đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ toàn bộ hoặc một phần văn bản theo Điều 22, Điều 23 và Điều 24 Nghị định số 79/2025/NĐ-CP. Trường hợp không xử lý hoặc xử lý không phù hợp, pháp luật quy định cơ chế đôn đốc và chuyển việc xử lý đến chủ thể có thẩm quyền.
2.2. Mối liên hệ giữa việc kiểm tra, xử lý văn bản và quá trình giải quyết vụ án hình sự
Việc cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện, kiến nghị có thể làm phát sinh hoặc thúc đẩy việc kiểm tra, xử lý văn bản, nhưng không thay thế cho hoạt động này. Ngược lại, kết quả kiểm tra, xử lý văn bản có thể tác động đến việc giải quyết vụ án nếu quy định được kiểm tra chính là căn cứ để xác định hành vi phạm tội. Trường hợp quy định đó bị xác định là trái pháp luật và được xử lý, căn cứ pháp lý dùng để xác định trách nhiệm hình sự có thể thay đổi, kéo theo yêu cầu xem xét lại việc giải quyết vụ án.
Trong mối liên hệ này, việc áp dụng pháp luật để giải quyết vụ án vẫn phải tuân thủ nguyên tắc quy định tại khoản 3 Điều 58 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025: “Trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn”. Vướng mắc ở chỗ, cơ quan tiến hành tố tụng có thể phát hiện “các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề” nhưng không có thẩm quyền kiểm tra, kết luận quy định của văn bản có hiệu lực pháp lý thấp hơn là trái với văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn, trong khi kết luận này có ý nghĩa quan trọng đối với việc lựa chọn văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn để áp dụng.
Điều này đặt cơ quan tiến hành tố tụng vào một thế lưỡng nan: nếu tiếp tục áp dụng quy định đang bị đặt vấn đề thì có nguy cơ không bảo đảm nguyên tắc áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn; nhưng nếu không áp dụng vì cho rằng quy định đó trái pháp luật thì lại vượt quá thẩm quyền kiểm tra, kết luận và xử lý văn bản.
2.3. Giải quyết vụ án hình sự trong thời gian chờ kết quả kiểm tra, xử lý văn bản
Trong tố tụng hình sự, mối liên hệ này đã được BLTTHS ghi nhận tại giai đoạn xét xử. Điều 265 quy định, Tòa án phát hiện và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý đối với văn bản pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Điều 281 đồng thời quy định trường hợp cần chờ kết quả xử lý văn bản pháp luật mà Tòa án đã kiến nghị thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định tạm đình chỉ vụ án.
Qua đó, BLTTHS đã bước đầu tạo ra cơ chế kết nối giữa việc xử lý văn bản và việc giải quyết vụ án ở giai đoạn xét xử. Tuy nhiên, cơ chế này chưa bao quát đầy đủ về phạm vi văn bản và giai đoạn tố tụng.
Về phạm vi văn bản
Điều 265 BLTTHS chỉ đề cập đến trường hợp “văn bản pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội”, nên chưa bao quát đầy đủ các trường hợp văn bản trái với văn bản QPPL có hiệu lực pháp lý cao hơn. Bởi lẽ, pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật xác lập quan hệ thứ bậc giữa nhiều loại văn bản, chẳng hạn giữa thông tư với nghị định hoặc giữa văn bản của chính quyền địa phương với thông tư, nghị định.
Về giai đoạn tố tụng
Trường hợp quy định có dấu hiệu trái với văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn được sử dụng để xác định hành vi phạm tội có thể phát sinh trước giai đoạn xét xử, cụ thể là trong giai đoạn điều tra hoặc truy tố. Đối với các giai đoạn này, BLTTHS chưa thiết lập cơ chế tương ứng để giải quyết vụ án trong thời gian chờ kết quả kiểm tra, xử lý văn bản.
3. Kết luận và kiến nghị
Từ những phân tích trên, bài viết kiến nghị hoàn thiện cơ chế kết nối giữa việc kiểm tra, xử lý văn bản và quá trình giải quyết vụ án hình sự, đồng thời làm rõ cách thức vận hành cơ chế này trong tố tụng hình sự. Theo đó:
Thứ nhất, quy định việc phát hiện và kiến nghị của cơ quan tiến hành tố tụng khi quy định có dấu hiệu trái với văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn được sử dụng trong việc xác định hành vi phạm tội; đồng thời bổ sung quyền của người bị buộc tội, người bào chữa đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng xem xét, thực hiện việc kiến nghị theo cơ chế trong tố tụng hình sự.
Thứ hai, bổ sung quy định về việc giải quyết vụ án trong thời gian chờ kết quả kiểm tra, xử lý văn bản, phù hợp với từng giai đoạn tố tụng; xác định thời hạn kiểm tra, kết luận, xử lý và chuyển kết quả cho cơ quan tiến hành tố tụng, qua đó tránh việc tiếp tục giải quyết vụ án khi căn cứ pháp lý có ý nghĩa đối với việc xác định trách nhiệm hình sự đang được xem xét, đồng thời hạn chế việc đình trệ tố tụng không cần thiết.
Việc hoàn thiện cơ chế này không chỉ góp phần bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật [5] mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự [6].
[1] Ví dụ các tội danh trong Bộ luật Hình sự hiện hành: Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng theo Điều 222, vi phạm các quy định về sử dụng đất đai theo Điều 228, lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ theo Điều 356, cố ý làm trái quy định về phân phối tiền, hàng cứu trợ theo Điều 231…;
[2] “Pháp luật chuyên ngành” trong bài viết được dùng để chỉ các văn bản quy phạm pháp luật thuộc những lĩnh vực khác ngoài pháp luật hình sự, như pháp luật về đất đai, xây dựng, môi trường, giao thông...;
[3] Bài viết tập trung vào trường hợp văn bản quy phạm pháp luật có nội dung trái với văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn theo điểm b khoản 1 Điều 7 Nghị định số 79/2025/NĐ-CP. Bài viết không xem xét các trường hợp khác liên quan đến tính hợp pháp của văn bản quy phạm pháp luật, như thẩm quyền ban hành, thời điểm có hiệu lực, quy định về bí mật nhà nước và trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản được quy định tại các điểm a, c, d, đ khoản 1 Điều 7 Nghị định số 79/2025/NĐ-CP;
[4] Bộ luật Tố tụng hình sự sử dụng thuật ngữ “văn bản pháp luật” nhưng chưa định nghĩa hoặc làm rõ phạm vi của thuật ngữ này. Theo cách hiểu được trình bày trong một số giáo trình, văn bản pháp luật bao gồm không những văn bản quy phạm pháp luật mà còn văn bản áp dụng pháp luật và văn bản hành chính;
[5] Xem khoản 2 Điều 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025;
[6] Xem Điều 2 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2025).
theo Luật sư ĐẶNG KIM CHINH
Luật sư ĐẶNG HỮU ĐĂNG
Luật sư NGUYỄN VŨ TUYẾT NGÂN
Công ty Luật CNN Legal. - Tạp chí luật sư VN

