1. Quy định về thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ từ nguồn dữ liệu điện tử trong tố tụng hình sự
Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 quy định: “Dữ liệu điện tử là ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử. Dữ liệu điện tử được thu thập từ phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông, trên đường truyền và các nguồn điện tử khác. Giá trị chứng cứ của dữ liệu điện tử được xác định căn cứ vào cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi dữ liệu điện tử; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác”.
Việc thu thập chứng cứ từ nguồn dữ liệu điện tử được quy định cụ thể tại Điều 107 BLTTHS năm 2015: “Phương tiện điện tử phải được thu giữ kịp thời, đầy đủ, mô tả đúng thực trạng và niêm phong ngay sau khi thu giữ. Việc niêm phong, mở niêm phong được tiến hành theo quy định của pháp luật...”. Bên cạnh đó, Điều 196 BLTTHS cũng quy định về thu giữ phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện và có thể mời người có chuyên môn liên quan tham gia. Trường hợp không thể thu giữ được thì phải sao lưu vào phương tiện lưu trữ và thu giữ như đối với vật chứng. Khi thu giữ các phương tiện điện tử có thể thu thiết bị ngoại vi kèm theo và các tài liệu có liên quan.
Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
Về cách thức thu thập dữ liệu điện tử được quy định tại Điều 201 BLTTHS trong quá trình khám nghiệm hiện trường; khám nghiệm hiện trường nhằm phát hiện dấu vết của tội phạm, thu giữ vật chứng, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử khác liên quan và làm sáng tỏ những tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án. Cách thức bảo quản dữ liệu điện tử được thực hiện theo quy định tại Điều 199 BLTTHS, đó là dữ liệu điện tử bị thu giữ, tạm giữ hoặc bị niêm phong phải được bảo quản nguyên vẹn.
Về cơ bản, việc thu thập chứng cứ từ nguồn dữ liệu điện tử giống như chứng cứ truyền thống bằng việc tác động vào một đối tượng vật chất cụ thể để thu thập được các thông tin có giá trị. Tuy nhiên, do đặc điểm tồn tại của dữ liệu điện tử không thể tác động trực tiếp như các nguồn chứng cứ truyền thống nên đòi hỏi việc thu thập các chứng cứ này cần có sự trợ giúp của các thiết bị, phần mềm chuyên dụng. Mặt khác, dữ liệu điện tử rất dễ bị thay đổi, làm hư hỏng hoặc phá huỷ bởi chính hoạt động thu thập nếu cơ quan chức năng không thực hiện đúng quy trình thu thập và phù hợp với đặc trưng của nguồn chứng cứ này. Vì vậy, công tác thu thập dữ liệu điện tử phải hết sức thận trọng, nếu không sẽ không thể đảm bảo các thuộc tính của chứng cứ.
Kiểm tra chứng cứ là một giai đoạn của quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự, được thực hiện sau khi đã thu thập được chứng cứ. Điều 108 BLTTHS năm 2015 quy định: “Mỗi chứng cứ phải được kiểm tra, đánh giá để xác định tính hợp pháp, xác thực và liên quan đến vụ án. Việc xác định những chứng cứ thu thập được phải bảo đảm đủ để giải quyết vụ án hình sự”. Việc kiểm tra chứng cứ nhằm xác định các chứng cứ đã thu thập được có thoả mãn 03 thuộc tính của chứng cứ là tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp hay không để đảm bảo giá trị chứng minh trong việc giải quyết các vụ việc hình sự. Hoạt động kiểm tra chứng cứ phải được các chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi quyền hạn của mình kiểm tra tất cả các chứng cứ đã thu thập được một cách khách quan, toàn diện.
Đánh giá chứng cứ là hoạt động tư duy logic của Điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm, người bào chữa và những người khác có thẩm quyền trên cơ sở các quy định của pháp luật nhằm xác định tính khách quan, tính liên quan, tính hợp pháp của từng chứng cứ và giá trị chứng minh của tổng hợp các chứng cứ đã thu thập được trong vụ án hình sự. Là một giai đoạn của quá trình chứng minh, đánh giá chứng cứ có mối quan hệ chặt chẽ với việc thu thập và kiểm tra chứng cứ. Chứng cứ chỉ được đánh giá sau khi được thu thập và kiểm tra; việc đánh giá chứng cứ là cơ sở để thu thập thêm chứng cứ mới. Đánh giá chứng cứ là biện pháp để kiểm tra chứng cứ, đánh giá tổng hợp các chứng cứ thu thập được cũng chính là biện pháp so sánh, đối chiếu trong quá trình kiểm tra chứng cứ.
2. Một số hạn chế, vướng mắc
Thứ nhất, vướng mắc trong việc khám xét dữ liệu điện tử.
Điều 192 BLTTHS quy định về căn cứ và thẩm quyền khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện, tài liệu, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử. Mặt khác, Điều 196 quy định về việc thu giữ phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử. Do vậy, cùng là dữ liệu điện tử nhưng dữ liệu điện tử vừa được quy định khám xét, vừa được quy định thu thập dẫn đến việc không hợp lý về mặt lý luận cũng như thực tiễn.
Dữ liệu điện tử là các thông tin được lưu trữ trên các phương tiện điện tử, kể cả các dữ liệu được lưu trữ trên mạng internet hoặc qua các dịch vụ lưu trữ đám mây thì các dữ liệu này đều được ghi trên một hoặc một số phương tiện điện tử nhất định. Việc khám xét các phương tiện điện tử này có thể thu thập được nhiều thông tin khác nhau liên quan đến thông tin của người sử dụng thiết bị như hình ảnh, tin nhắn, thông tin cá nhân. Khi thu thập dữ liệu điện tử cần phải thực hiện đúng trình tự của BLTTHS về việc khám xét, thu giữ và bắt buộc có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát. Do đó, cần phải coi việc thu thập dữ liệu điện tử trong các phương tiện điện tử là hoạt động khám xét phương tiện điện tử liên quan đến vụ án, để đảm bảo quyền của họ thì hoạt động này cần phải có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát trước khi thi hành lệnh khám xét hoặc thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát có thẩm quyền sau khi khám xét khẩn cấp theo quy định tại Điều 193 BLTTHS năm 2015.
Thứ hai, vướng mắc trong việc xử lý chứng cứ từ nguồn dữ liệu điện tử.
Đối với dữ liệu điện tử lưu trữ trên mạng máy tính, mạng viễn thông, BLTTHS chỉ quy định về việc thu thập, lưu trữ, bảo quản dữ liệu điện tử mà không quy định về việc xử lý vật chứng. Dữ liệu điện tử là thông tin ảnh hưởng đến danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác được đăng tải trên không gian mạng phải được gỡ bỏ để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Có vụ án cơ quan điều tra đã tiến hành sao lưu dữ liệu điện tử từ không gian mạng, có xác nhận của người phát tán thông tin, người làm chứng và thay đổi mật khẩu truy cập vào tài khoản để tránh trường hợp khi bị can không bị tạm giam sẽ xoá dữ liệu đã đăng lên. Do vướng mắc về việc đảm bảo tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử mà các cơ quan tiến hành tố tụng thụ lý vụ án cũng không xoá tài khoản và các thông tin có nội dung ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm của người bị hại, đến khi vụ án được giải quyết xong, có bản án có hiệu lực thì các video, hình ảnh nhạy cảm của người bị hại vẫn tồn tại trên không gian mạng.
Thứ ba, vướng mắc trong việc kiểm tra, đánh giá chứng cứ từ nguồn dữ liệu điện tử.
Dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ đặc thù dễ bị biến đổi, tác động nếu không được thu thập, bảo quản một cách phù hợp. Chính vì vậy, trong thời đại chuyển đổi số có nhiều công nghệ có thể tác động làm thay đổi các nguồn thông tin như việc sử dụng trí tuệ nhân tạo để tạo các video, hình ảnh, giọng nói giả mạo… Vì vậy, đòi hỏi việc kiểm tra, đánh giá chứng cứ phải thật chặt chẽ để đảm bảo tính khách quan của chứng cứ, đảm bảo việc giải quyết vụ án đúng pháp luật.
Thứ tư, thiếu nguồn cán bộ có trình độ chuyên môn, có kiến thức, kinh nghiệm trong việc thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ từ nguồn dữ liệu điện tử.
Các thiết bị điện tử, phần mềm tin học biến đổi thường xuyên, liên tục đòi hỏi mỗi cán bộ khi được phân công giải quyết các vụ án hình sự phải có sự phân tích, tổng hợp, tư duy logic các kiến thức, quy định pháp luật và kinh nghiệm thực tiễn để thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ từ nguồn dữ liệu điện tử một cách chính xác. Chứng cứ từ nguồn dữ liệu điện tử rất đa dạng và phong phú đòi hỏi những người tiến hành tố tụng phải có hiểu biết nhất định về công nghệ và tư duy nhạy bén thông qua việc học hỏi, trao đổi kinh nghiệm khi được phân công tiến hành tố tụng.
3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ từ nguồn dữ liệu điện tử trong tố tụng hình sự
Thứ nhất, làm rõ quy định về khám xét dữ liệu điện tử và thu giữ dữ liệu điện tử trong BLTTHS.
Trong việc khám xét để thu thập dữ liệu điện tử cần phải làm rõ việc khám xét dữ liệu điện tử trong Điều 192 và thu giữ dữ liệu điện tử trong Điều 196 BLTTHS năm 2015. Việc khám xét dữ liệu điện tử là việc trích xuất dữ liệu điện tử từ các phương tiện điện tử trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua các hình thức như mạng không dây, mạng internet…) để thu thập được các thông tin cần thiết. Quá trình này đòi hỏi phải truy cập được vào các phương tiện điện tử và có thể thu được các thông tin khác không liên quan đến việc giải quyết vụ án. Việc thu thập dữ liệu điện tử là việc cơ quan có thẩm quyền thu thập được các thông tin do người khác cung cấp, giao nộp được lưu trữ trong thiết bị lưu trữ điện tử như USB, đĩa DVD… Việc thu thập dữ liệu điện tử này không ảnh hưởng đến bí mật cá nhân của người cung cấp hoặc người đó tự chịu trách nhiệm về hành vi giao nộp dữ liệu của mình.
Thứ hai, bổ sung quy định về người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, các phương tiện điện tử ngày càng phức tạp và bảo mật hơn đòi hỏi việc trích xuất, chuyển hoá dữ liệu điện tử cần đội ngũ cán bộ có chuyên môn kỹ thuật. Điều 196 BLTTHS quy định việc thu giữ phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện và có thể mời người có chuyên môn liên quan tham gia. Trên thực tế, các cơ quan điều tra không có cán bộ và thiết bị chuyên môn về lĩnh vực này. Việc thực hiện các hoạt động có thể ảnh hưởng đến dữ liệu trong thiết bị như kết nối mạng, chụp ảnh màn hình, trích xuất bằng các thiết bị có thể đọc, ghi dữ liệu… để tránh các trường hợp làm mất mát hoặc thay đổi dữ liệu thì cần đội ngũ có chuyên môn thực hiện.
Thứ ba, bổ sung quy định về xử lý vật chứng là các phương tiện điện tử, đặc biệt là các phương tiện điện tử lưu trữ các thông tin về bí mật cá nhân, thông tin ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm của cá nhân.
Cần bổ sung quy định của BLTTHS và Luật Thi hành án dân sự về việc xử lý đối với các phương tiện điện tử lưu trữ các thông tin về bí mật cá nhân, thông tin ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm của cá nhân là vật chứng của vụ án nếu thuộc trường hợp cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Trước khi xử lý vật chứng cần phải có quyết định của Toà án về việc thực hiện các biện pháp kỹ thuật nhằm xoá bỏ không thể khôi phục các thông tin liên quan đến bí mật, danh dự, nhân phẩm của bất kỳ cá nhân nào được lưu trữ trong các thiết bị điện tử. Sau đó, giao cho cơ quan thi hành án dân sự phối hợp với các cơ quan chuyên môn trong việc xoá bỏ các thông tin trước khi sung quỹ Nhà nước.
Thứ tư, bổ sung quy định về thẩm quyền xử lý và cơ chế xử lý các dữ liệu điện tử trên không gian mạng và các cách thức tiến hành để tránh việc tiếp tục phát tán các thông tin trên không gian mạng.
Các cơ quan có thẩm quyền cần có văn bản hướng dẫn về việc thu thập, bảo quản các chứng cứ từ nguồn dữ liệu điện tử trên không gian mạng. Sau khi thu thập một cách đầy đủ, khách quan, cần cho phép các cơ quan tiến hành tố tụng hoặc các tổ chức đang lưu giữ xoá bỏ các thông tin liên quan đến bí mật Nhà nước, bí mật cá nhân, bí mật kinh doanh… đảm bảo cho các thông tin này không bị phát tán hoặc sao chép trái phép.
Thứ năm, tăng cường về nhân lực cho các cơ quan tiến hành tố tụng: Các cơ quan có thẩm quyền cần tăng cường các hoạt động tập huấn, trao đổi kinh nghiệm trong việc thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ điện tử cho những người tiến hành tố tụng, đội ngũ giám định kỹ thuật liên quan đến kỹ thuật số và điện tử và cán bộ công nghệ thông tin giải quyết các vụ án liên quan đến chứng cứ từ nguồn dữ liệu điện tử.
theo NGUYỄN THỊ YẾN HOA
Toà án quân sự Quân khu 1 - Tạp chí luật sư VN

