Bài viết nghiên cứu lịch sử lập pháp, đối chiếu một số vụ án tiêu biểu và kiến nghị xây dựng cấu thành theo hướng trung lập về công nghệ; bổ sung trách nhiệm của pháp nhân thương mại; đa dạng hóa ngưỡng truy cứu; làm rõ ranh giới với các tội danh liên quan; tăng cường thu hồi lợi ích bất chính và hoàn trả cho khách hàng.
1. Đặt vấn đề
Nhắc đến tội "Lừa dối khách hàng", hình dung quen thuộc thường là người bán cân thiếu, đong thiếu, tính sai hoặc tráo hàng. Hình dung ấy phản ánh đúng hoàn cảnh ra đời của tội danh, nhưng không còn bao quát đầy đủ thị trường hiện đại. Khách hàng ngày nay có thể bị dẫn dắt bởi hồ sơ pháp lý của căn hộ, lời quảng bá về công dụng thực phẩm, xuất xứ của hàng hóa, bằng cấp của người thực hiện dịch vụ y tế, hoặc cam kết rằng một chương trình nghệ thuật chắc chắn có thể diễn ra. “Chiếc cân” quyết định giá trị giao dịch phần lớn đã trở thành thông tin.
Thực tiễn áp dụng Điều 198 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 vì thế đang đi nhanh hơn câu chữ. Tội danh dịch chuyển từ gian lận định lượng sang hành vi làm sai lệch nhận thức của khách hàng về thuộc tính trọng yếu của hàng hóa, dịch vụ. Sự thích ứng này là cần thiết, nhưng cũng tạo rủi ro: nếu “thủ đoạn gian dối khác” trở thành công thức bao trùm mà thiếu tiêu chí giới hạn, ranh giới giữa tội phạm, vi phạm hành chính, tranh chấp hợp đồng và các tội danh khác sẽ phụ thuộc quá nhiều vào đánh giá từng vụ việc. Do đó, sửa Điều 198 không nên chỉ tăng mức phạt, mà trước hết phải định danh rõ lợi ích được bảo vệ, hành vi bị cấm và chủ thể chịu trách nhiệm.
Ảnh minh học. Nguồn: Internet.
2. Sự hình thành và phát triển của tội "Lừa dối khách hàng" trong pháp luật hình sự Việt Nam
tội "Lừa dối khách hàng" lần đầu được quy định thành một tội danh độc lập trong một bộ luật hình sự thống nhất tại Điều 170 BLHS năm 1985. Điều luật xử lý người “trong việc mua bán mà cân, đong, đo, đếm, tính gian, đánh tráo loại hàng hoặc dùng thủ đoạn gian dối khác” gây thiệt hại cho khách hàng, với điều kiện đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm. Khung cơ bản có mức cao nhất ba năm tù; phạm tội nhiều lần hoặc thu lợi bất chính lớn có thể bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm. Các luật sửa đổi BLHS vào các năm 1989, 1991, 1992 và 1997 không trực tiếp sửa Điều 170. Ở giai đoạn này, cấu thành chủ yếu dựa vào tiền sự hành chính; thiệt hại chưa được lượng hóa và “thu lợi bất chính lớn” còn là khái niệm định tính.
BLHS năm 1999 chuyển tội danh thành Điều 162. Bên cạnh trường hợp đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án mà chưa được xóa án tích, người thực hiện hành vi có thể bị truy cứu nếu gây “thiệt hại nghiêm trọng”. Hình phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng và cải tạo không giam giữ được bổ sung; phạt tiền còn có thể là hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, phạm vi hành vi vẫn giới hạn trong “việc mua, bán”, chưa nói rõ dịch vụ; “thiệt hại nghiêm trọng” và “thu lợi bất chính lớn” tiếp tục cần giải thích. Luật sửa đổi BLHS năm 2009 không sửa Điều 162.
Điều 198 BLHS năm 2015 tạo ra thay đổi lớn nhất: mở rộng sang “mua, bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ”; quy định người chưa có tiền sự, tiền án liên quan có thể bị xử lý nếu thu lợi bất chính từ 5 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng; từ 50 triệu đồng trở lên là tình tiết định khung. Điều luật bổ sung các trường hợp có tổ chức, chuyên nghiệp, dùng thủ đoạn xảo quyệt; nâng phạt tiền chính tối đa lên 500 triệu đồng và cho phép cấm hành nghề. Ngược lại, mức tù cao nhất giảm từ bảy năm xuống năm năm. Qua các lần sửa đổi sau đó, Điều 198 vẫn được giữ nguyên trong văn bản hợp nhất hiện hành.
Như vậy, pháp luật đã chuyển từ cơ chế xử lý tái phạm hành chính sang lượng hóa lợi ích bất chính và thừa nhận dịch vụ là đối tượng giao dịch. Dẫu vậy, lõi mô tả vẫn là “cân, đong, đo, đếm, tính gian hàng hóa, dịch vụ hoặc dùng thủ đoạn gian dối khác” - cách diễn đạt phù hợp với chợ truyền thống hơn thị trường dựa trên dữ liệu, nền tảng số, người có ảnh hưởng và chuỗi cung ứng xuyên biên giới.
Một phương án sửa đổi được công bố năm 2025 từng đề xuất nâng phạt tiền ở khung cơ bản lên 20-200 triệu đồng, khung tăng nặng lên 200 triệu-1 tỉ đồng; đồng thời nâng các mốc thu lợi bất chính từ 5 triệu đồng lên 10 triệu đồng và từ 50 triệu đồng lên 100 triệu đồng. Phương án này tăng sức nặng chế tài nhưng lại có thể thu hẹp phạm vi xử lý người vi phạm lần đầu thu lợi từ 5 triệu đến dưới 10 triệu đồng. Quan trọng hơn, thay đổi con số chưa giải quyết được các vấn đề về hành vi, chủ thể, quan hệ nhân quả và ranh giới tội danh.
3. Những vấn đề pháp lý đặt ra từ thực tiễn áp dụng Điều 198
Vụ gắn chip điện tử tại các cửa hàng xăng dầu Trần Khát Chân và Yên Viên ở Hà Nội là ví dụ cho mô hình cổ điển. Theo bản án sơ thẩm được báo chí phản ánh năm 2017, các bị cáo dùng chip làm giảm khoảng 5% lượng xăng thực tế giao cho khách, thu lợi hơn 1,57 tỉ đồng và bị kết án theo Điều 162 BLHS năm 1999. Hành vi, đối tượng tác động và lợi ích bất chính đều đo được trực tiếp.
Trong bất động sản, “cái thiếu” lại nằm ở tình trạng pháp lý. Vụ khu dân cư Tân Thịnh tại Đồng Nai có bản án sơ thẩm ngày 28/4/2025 xác định dự án chưa đủ điều kiện kinh doanh nhưng doanh nghiệp đã ký 359 hợp đồng, thu hơn 533 tỉ đồng. Cựu Chủ tịch Hội đồng quản trị và cựu Phó Tổng giám đốc Công ty LDG bị tuyên phạt về tội "Lừa dối khách hàng"; doanh nghiệp phải hoàn trả hơn 500 tỉ đồng cho người mua. Vụ CT6 Kiến Hưng liên quan ông Lê Thanh Thản cũng đặt trọng tâm vào thông tin về điều kiện cấp giấy chứng nhận cho căn hộ. Hành vi bị cáo buộc xảy ra khi Điều 162 BLHS năm 1999 còn hiệu lực, nhưng quy định có lợi của Điều 198 BLHS năm 2015 được đặt ra trong quá trình giải quyết. Đến tháng 8/2026, vụ án được truy tố lại sau điều tra bổ sung và chưa có phán quyết có hiệu lực.
Trong thương mại điện tử, thông tin về công dụng, thành phần và xuất xứ trở thành công cụ bán hàng. Bản án sơ thẩm vụ kẹo rau củ Kera ngày 19/11/2025 tuyên phạt các bị cáo, trong đó có những người nổi tiếng trên mạng xã hội, về tội "Lừa dối khách hàng". Theo bản án được công bố, 129.617 hộp sản phẩm đã được bán cho 56.385 khách hàng, doanh thu khoảng 17,5 tỉ đồng, thu lợi bất chính khoảng 12,4 tỉ đồng; nội dung quảng bá về chất xơ và khả năng thay thế rau không có cơ sở khoa học tương ứng. Tháng 8/2026, vụ liên quan kênh Hải SapaTV được khởi tố với cáo buộc biến thịt trâu đông lạnh nhập khẩu thành “đặc sản Tây Bắc”. Đây mới là giai đoạn điều tra, nhưng cho thấy uy tín số và chỉ dẫn nguồn gốc có thể quyết định giao dịch không kém chất lượng vật lý.
Đối với dịch vụ y tế, làm đẹp, sự gian dối còn có thể đe dọa sức khỏe. Năm 2025, cơ quan điều tra khởi tố các vụ tại Phòng khám Đa khoa Quốc tế Đà Nẵng và cơ sở thẩm mỹ Gangwhoo ở Thanh Hóa, với cáo buộc sử dụng người không đủ tư cách chuyên môn, “vẽ bệnh”, gây lo sợ để nâng gói dịch vụ hoặc quảng cáo sai về phương pháp thực hiện. Các vụ án đang trong quá trình tố tụng, nên cáo buộc chưa phải kết luận có tội. Dẫu vậy, chúng chứng minh khoản thu lợi không phải thước đo duy nhất: một giao dịch giá trị thấp vẫn có thể gây nguy hại đáng kể.
Dịch vụ giải trí cũng đặt ra bài toán định tội. Ngày 27/8/2026, Giám đốc đơn vị tổ chức chương trình “Về đây bốn cánh chim trời” bị Tòa án nhân dân Khu vực 2, Hà Nội tuyên phạt hai năm tù về tội "Lừa dối khách hàng", sau khi tội danh ban đầu được thay đổi từ lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Theo cáo trạng được báo chí dẫn lại, chương trình không đủ điều kiện thực hiện nhưng việc bán vé vẫn tiếp tục, gây thiệt hại cho 704 khán giả với hơn 3,6 tỉ đồng. Việc chuyển tội danh cho thấy ranh giới giữa Điều 174 và Điều 198: đâu là giao dịch có thật nhưng bị bóp méo để thu lợi, đâu là gian dối nhằm chiếm đoạt ngay từ đầu?
Các vụ việc khác nhau về quy mô, thủ đoạn và giai đoạn tố tụng, nhưng cùng có một điểm: thông tin sai hoặc bị che giấu tác động vào quyết định giao dịch. Thực tiễn đang diễn giải “thủ đoạn gian dối khác” như một cấu thành mở về gian dối thương mại. Việc này có lý do chính đáng, song cần được luật hóa bằng tiêu chí đủ rõ để bảo đảm nguyên tắc không có tội nếu không có luật và sự thống nhất khi áp dụng.
4. Những bất cập trong cấu thành và phạm vi áp dụng tội "Lừa dối khách hàng"
Thứ nhất, Điều 198 chưa xác định rõ lợi ích pháp lý trung tâm. Tên tội danh hướng tới khách hàng, còn vị trí của điều luật trong nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế cho thấy lợi ích công về sự lành mạnh của thị trường. Hai phương diện này có thể thống nhất nếu xác định điều luật bảo vệ tính trung thực của giao dịch và quyền tự do quyết định trên cơ sở thông tin đúng. Nếu thiếu điểm tựa này, việc giải thích “thủ đoạn gian dối khác” dễ quá rộng hoặc quá hẹp.
Thứ hai, thu lợi bất chính đang gần như là căn cứ duy nhất đối với người vi phạm lần đầu. Chỉ số này hữu ích nhưng không phản ánh hết tính nguy hiểm. Gian dối trên nền tảng số có thể tạo ra hàng nghìn thiệt hại nhỏ; hành vi trong y tế có thể thu lợi chưa cao nhưng đe dọa sức khỏe; gian dối với người cao tuổi, trẻ em hoặc người hạn chế khả năng tiếp cận thông tin cần đánh giá nghiêm khắc hơn. Cách tính lợi bất chính cho cá nhân hay tổ chức, trước hay sau chi phí, cộng gộp theo thời gian và các kênh bán hàng cũng cần thống nhất.
Thứ ba, “khách hàng” chưa được định nghĩa. Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 xác định “người tiêu dùng” theo mục đích không nhằm mục đích thương mại, trong khi “khách hàng” tại Điều 198 có thể rộng hơn. Cùng với đó là trách nhiệm của KOL/KOC, người làm nội dung tiếp thị và chủ thể trung gian. Luật năm 2023 đã đặt nghĩa vụ bảo đảm tính chính xác, đầy đủ của thông tin và công khai việc tài trợ, nhưng trách nhiệm hình sự không thể suy đoán chỉ từ việc xuất hiện trong quảng cáo. Phải chứng minh họ biết thông tin trọng yếu là sai, cố ý góp phần vào giao dịch và có vai trò thực tế đối với hậu quả hoặc lợi ích thu được.
Thứ tư, Điều 198 không nằm trong danh mục tại Điều 76 BLHS, nên pháp nhân thương mại chưa phải chủ thể chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Khoảng trống đặc biệt rõ khi lợi ích bất chính chảy vào doanh nghiệp, hành vi được tổ chức qua nhiều bộ phận nhưng chỉ một số cá nhân bị xử lý. Trách nhiệm hoàn trả dân sự của doanh nghiệp là cần thiết, song chưa thay thế được trách nhiệm công của tổ chức đã hưởng lợi và tạo điều kiện cho hành vi.
Cuối cùng là ranh giới với các tội danh khác. Điều 174 xử lý gian dối nhằm chiếm đoạt; Điều 197 xử lý quảng cáo gian dối; các điều 192-195 xử lý hàng giả; Điều 198 hướng tới gian dối trong mua bán, cung cấp dịch vụ. Khi quảng cáo sai được dùng để bán hàng, hàng vừa giả vừa được giới thiệu sai, hoặc bên bán vẫn giao một phần đối ứng nhưng biết không thể thực hiện cam kết, cơ quan tố tụng cần tiêu chí lựa chọn tội danh và nguyên tắc không tính hai lần cùng hành vi, hậu quả.
5. Kiến nghị hoàn thiện Điều 198 Bộ luật Hình sự
Một là, nên tái cấu trúc mặt khách quan theo hướng trung lập về công nghệ. Hành vi cốt lõi có thể được mô tả là: trong giao dịch hàng hóa, dịch vụ, người nào cố ý cung cấp thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn về vấn đề trọng yếu; che giấu hoặc không cung cấp thông tin trọng yếu khi có nghĩa vụ công bố; hoặc làm sai lệch số lượng, chất lượng, thành phần, nguồn gốc, tình trạng pháp lý, giá và cách tính giá, tư cách chuyên môn, khả năng thực hiện hay đặc tính cơ bản khác nhằm thu lợi bất chính, thì chịu trách nhiệm khi đạt ngưỡng luật định. Cân, đong, đo, đếm, tính gian vẫn nên giữ như các ví dụ điển hình, không còn là trung tâm duy nhất.
“Thông tin trọng yếu” nên được hiểu là thông tin có khả năng làm thay đổi quyết định của một khách hàng hợp lý trong hoàn cảnh cụ thể. Tiêu chí này loại trừ quảng bá cường điệu thuần túy, ý kiến chủ quan, sai sót vô ý, vi phạm chất lượng nhỏ và tranh chấp hợp đồng thông thường. Trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra khi có lỗi cố ý, sự sai lệch đáng kể và mối liên hệ với quyết định giao dịch hoặc khoản lợi. Đây là “van giới hạn” cần thiết để tránh hình sự hóa rủi ro kinh doanh.
Hai là, cần định nghĩa chủ thể được bảo vệ. Có thể giữ “khách hàng” để bao quát cả người tiêu dùng và bên sử dụng hàng hóa, dịch vụ trong giao dịch không thuần túy tiêu dùng; hoặc đổi tên tội danh thành “Gian dối trong giao dịch hàng hóa, dịch vụ”. Dù chọn phương án nào, nên có tình tiết tăng nặng khi hành vi nhắm vào số lượng lớn người tiêu dùng, người tiêu dùng dễ bị tổn thương hoặc lợi dụng bệnh tật, tình trạng khẩn cấp, hạn chế nhận thức và chênh lệch thông tin đặc biệt.
Ba là, ngưỡng truy cứu cần dựa trên nhiều tiêu chí thay thế. Ngoài khoản lợi, có thể dùng tổng thiệt hại, số khách hàng hoặc giao dịch bị tác động, hậu quả sức khỏe và an toàn, hoặc quy mô thực tế trên môi trường số. Số lượt xem không nên tự nó tạo trách nhiệm hình sự, nhưng có thể chứng minh phạm vi tiếp cận khi gắn với số giao dịch và hậu quả. Ngưỡng tiền cần điều chỉnh dựa trên dữ liệu xét xử, giá cả và thu nhập, thay vì tăng cơ học sau mỗi chu kỳ sửa luật.
Bốn là, cần bổ sung Điều 198 vào danh mục tội mà pháp nhân thương mại có thể phải chịu trách nhiệm hình sự tại Điều 76, vẫn theo các điều kiện chặt chẽ của Điều 75 BLHS. Chế tài nên ưu tiên phạt tiền tương xứng với doanh thu hoặc lợi ích bất chính, tước toàn bộ khoản lợi, buộc cải chính công khai, đình chỉ lĩnh vực liên quan và áp dụng chương trình tuân thủ. Trách nhiệm của KOL/KOC phải được cá thể hóa: chỉ xử lý khi chứng minh được sự biết rõ, ý chí tham gia, đóng góp trọng yếu và lợi ích hoặc vai trò trong chuỗi giao dịch; không đặt trách nhiệm tuyệt đối chỉ vì danh tiếng của họ được sử dụng.
Năm là, cần có nghị quyết hướng dẫn phân định Điều 198 với Điều 174, Điều 197 và nhóm tội về hàng giả. Có thể lấy ý định chiếm đoạt và bản chất giao dịch làm trục: Điều 174 áp dụng khi gian dối là phương tiện làm chủ tài sản trái pháp luật; Điều 198 áp dụng khi quan hệ mua bán hoặc dịch vụ có tồn tại nhưng giá trị đối ứng, điều kiện thực hiện hay thông tin trọng yếu bị cố ý bóp méo để thu lợi. Nếu hàng hóa là hàng giả và hành vi đã được mô tả đầy đủ bởi tội danh chuyên biệt, ưu tiên điều luật chuyên biệt; chỉ xử lý thêm hành vi độc lập khi xâm phạm lợi ích khác và không tính trùng hậu quả. Quảng cáo gian dối có thể được coi là phương thức của lừa dối khách hàng khi đã gắn với giao dịch cụ thể và khoản lợi; Điều 197 xử lý phần hành vi chưa bị hấp thụ bởi tội danh nặng hơn.
Sáu là, chính sách hình phạt cần hướng tới khôi phục trật tự giao dịch. Việc tước bỏ lợi ích bất chính, hoàn tiền hoặc bồi thường, cải chính công khai và ngăn tái phạm thường tác động trực tiếp hơn việc chỉ tăng thời hạn tù. Hình phạt tù nghiêm khắc nên dành cho trường hợp có tổ chức, chuyên nghiệp, tái phạm, quy mô lớn, gây nguy hiểm sức khỏe hoặc nhắm vào người dễ bị tổn thương. Pháp luật tố tụng cũng cần cơ chế xác định, thông báo cho khách hàng trong vụ việc hàng loạt; bảo toàn livestream, kịch bản quảng cáo, kết quả kiểm nghiệm, thư điện tử nội bộ và dòng tiền; cho phép tổng hợp lợi ích, thiệt hại từ nhiều giao dịch có cùng phương thức.
6. Kết luận
Từ Điều 170 BLHS năm 1985 đến Điều 198 BLHS năm 2015, tội "Lừa dối khách hàng" đã mở rộng đáng kể về phạm vi giao dịch, căn cứ truy cứu và chế tài. Nhưng thị trường chuyển nhanh hơn pháp luật: gian dối hiện đại vận hành chủ yếu qua thông tin, dữ liệu, uy tín số và cơ cấu doanh nghiệp, chứ không chỉ qua chiếc cân.
Sửa Điều 198 vì vậy phải bắt đầu từ việc định danh đúng hành vi và lợi ích cần bảo vệ. Một cấu thành lấy thông tin sai lệch trọng yếu, lỗi cố ý và quyền tự quyết của khách hàng làm trung tâm; kết hợp ngưỡng truy cứu đa chiều, trách nhiệm pháp nhân, tiêu chí rõ cho người quảng bá, ranh giới tội danh minh bạch và cơ chế hoàn trả hiệu quả sẽ phù hợp hơn với nền kinh tế số. Tăng hình phạt có thể cần, nhưng nếu chưa làm rõ “đâu là tội phạm” và “ai phải chịu trách nhiệm”, mức phạt cao hơn chưa chắc tạo ra công bằng hay sức răn đe bền vững.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ luật Hình sự năm 1985, các luật sửa đổi, bổ sung các năm 1989, 1991, 1992 và 1997;
2. Bộ luật Hình sự năm 1999, Luật số 37/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự;
3. Bộ luật Hình sự năm 2015, Văn bản hợp nhất số 135/VBHN-VPQH năm 2025;
4. Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng số 19/2023/QH15.
theo Thạc sĩ, Luật sư HOÀNG HÀ
Công ty Luật TNHH MTV Thiên Quý,
Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh. - Tạp chí luật sư VN
https://lsvn.vn/kien-nghi-hoan-thien-toi-lua-doi-khach-hang-trong-nen-kinh-te-so-a178669.html

