Quyền tác giả đối với sản phẩm do AI tạo ra: Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị cho Việt Nam

Cập nhật: 08/09/2026 22:51

4284

   

Trong thời kỳ chuyển đổi số, Trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng được sử dụng rộng rãi để tạo ra các tác phẩm như tranh vẽ, âm nhạc, văn bản, thiết kế đồ họa, công trình nghiên cứu hoặc mô hình kỹ thuật số. Về hình thức thể hiện, chúng đáp ứng đầy đủ các yếu tố cấu thành một tác phẩm như bố cục, cấu trúc, tính sáng tạo và khả năng truyền đạt nội dung. Tuy nhiên, điểm khác biệt nằm ở chủ thể trực tiếp thực hiện hành vi sáng tạo. Nếu như trong sáng tạo truyền thống, con người vừa là chủ thể tư duy vừa trực tiếp thể hiện ý tưởng thì với AI chỉ cần người dùng nhập câu lệnh xử lý dữ liệu, tổng hợp thông tin và tạo ra sản phẩm dựa trên thuật toán đã được lập trình sẵn.

Thực tiễn này đặt ra thách thức đối với pháp luật bởi vì trong quá trình tạo ra tác phẩm thường có sự tham gia của nhiều chủ thể bao gồm nhà phát triển (thiết lập mô hình cho AI), người dùng hệ thống (trực tiếp đưa ra câu lệnh), bên thứ ba (tác giả của tác phẩm) và chính hệ thống AI. Đây chính là khoảng trống lý luận và thực tiễn cần được nghiên cứu, hoàn thiện trong hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ hiện nay. Bài nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu và phỏng vấn chuyên gia, tham khảo pháp luật của một số quốc gia trên thế giới nhằm làm rõ cách tiếp cận trong việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với các sản phẩm do AI tạo ra, từ đó đánh giá thực trạng và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam thúc đẩy sự phát triển của AI, tạo động lực nghiên cứu và ứng dụng AI vào sáng chế.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

1. Đặt vấn đề

Hiện nay, AI đang phát triển mạnh mẽ trên toàn cầu và đa dạng trong tất cả các lĩnh vực ngành nghề. Dưới sự phát triển mạnh mẽ đó, AI đang trở thành yếu tố cốt lõi để các quốc gia phát triển nền kinh tế lớn mạnh trong kỷ nguyên số hóa. Chẳng hạn như, Trung Quốc hiện đang tập trung vào các lĩnh vực siêu máy tính, nền tảng dữ liệu lớn nhằm giảm phụ thuộc công nghệ phương Tây nhằm đảm bảo an ninh công nghệ. Trong khi đó, tại Ấn Độ việc tích hợp các hệ thống chatbot và trợ lý ảo dựa trên nền tảng AI đã trở thành giải pháp chiến lược nhằm tối ưu hóa chi phí vận hành và nâng cao hiệu suất quy trình ở mọi quy mô kinh doanh; ở khu vực Trung Đông, các quốc gia như các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất và Saudi Arabia đang tận dụng AI để thúc đẩy sự đa dạng hóa cho nền kinh tế, khuyến khích đổi mới sáng tạo và triển khai các giải pháp. Qua thực tiễn phát triển kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới có thể thấy rằng AI đang trở thành động lực quan trọng nhằm thúc đẩy nền kinh tế và tăng cao năng lực cạnh tranh giữa các quốc gia, đây không chỉ là xu hướng công nghệ mà còn là yếu tố chiến lược quyết định vị thế phát triển của các quốc gia trong kỷ nguyên số.

Việt Nam hiện nay cũng không đứng ngoài xu thế đó. Nghị quyết số 57/NQ/TW (ngày 22/12/2024) của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định rõ: Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đối số đang là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia; là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới – kỷ nguyêđungn vươn mình của dân tộc. Tại buổi công bố báo cáo của nền kinh tế AI Việt Nam 2025 đã đánh giá tiềm năng của AI đang nổi lên như một động lực trung tâm của cuộc cách mạng này, với quy mô dự báo đóng góp tới 5 nghìn tỷ USD cho kinh tế toàn cầu riêng vào năm 2030. Điều đó cho thấy sức hút của lĩnh vực AI và Việt Nam đang coi AI là động lực phát triển kinh tế. Sự bùng nổ của các mô hình AI đã làm thay đổi căn bản phương thức sáng tạo nội dung, các tác phẩm có thể được tạo ra thông qua hệ thống AI dưới sự thao tác lệnh của người sử dụng. Những sản phẩm này đáp ứng đầy đủ các yếu tố cấu thành một tác phẩm như bố cục, cấu trúc, tính sáng tạo và khả năng truyền đạt nội dung. Tuy nhiên, điểm khác biệt cốt lõi nằm ở chủ thể trực tiếp thực hiện hành vi sáng tạo. Nếu như trong sáng tạo truyền thống, con người vừa là chủ thể tư duy vừa trực tiếp thể hiện ý tưởng, thì với AI chỉ cần xử lý dữ liệu, tổng hợp thông tin và tạo ra sản phẩm dựa trên thuật toán đã được lập trình sẵn vì vậy ranh giới sáng tạo của con người và AI ngày càng mờ nhạt. Đáng chú ý hoạt động thu thập, sao chép dữ liệu để huấn luyện AI bao gồm cả dữ liệu có bảo hộ quyền tác giả và dữ liệu cá nhân diễn ra tự động, không có kiểm soát chặt chẽ, làm gia tăng nguy cơ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; từ đó dẫn đến tình trạng dữ liệu bị khai thác trái phép mà không có sự đồng ý của tác giả, đặc biệt là đối với các sản phẩm có giá trị kinh tế - xã hội dẫn đến nguy cơ phát sinh tranh chấp liên quan đến nhiều chủ thể bao gồm nhà phát triển, người dùng hệ thống, bên thứ ba và chính hệ thống AI. Tại Việt Nam, mặc dù Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2025 đã ban hành, tạo hành lang pháp lý nền tảng cho hoạt động nghiên cứu, phát triển AI nhưng các quy định về quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm do AI tạo ra vẫn chưa được cụ thể dẫn đến khoảng trống pháp lý cả về thực tiễn và lý luận trong việc xác định chủ thể và cơ chế thực thi quyền tác giả.

Vì vậy đề tài “Quyền tác giả đối với sản phẩm do AI tạo ra: Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị cho Việt Nam” là hết sức cần thiết. Nghiên cứu góp phần có cơ sở khoa học để hoàn thiện hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ đối với quyền sở hữu sản phẩm do AI tạo ra và thúc đẩy sự phát triển của AI, tạo động lực nghiên cứu và ứng dụng AI vào sáng chế.

2. Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu

Theo quan điểm của Janne C.Ginsburg, tác giả là người trực tiếp tạo ra sản phẩm thông qua quá trình thể hiện ý tưởng thành một hình thức cụ thể và được hưởng quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản. Việc xác lập tư cách tác giả gồm 6 tiêu chí gồm: hoạt động trí tuệ được ưu tiên hơn hoạt động cơ học, con người giữ vai trò trung tâm trong việc sáng tạo, tác phẩm phải thể hiện được tính nguyên gốc thông qua dấu ấn cá nhân, pháp luật không đánh giá chất lượng nhưng sản phẩm phải là kết quả của quá trình lao động bằng trí óc và việc đầu tư tài chính, cung cấp dữ liệu hoặc phương tiện kỹ thuật không mặc nhiên làm phát sinh quyền tác giả. Đối với trường hợp có nhiều người cùng tham gia hoạt động sáng tạo thì mỗi chủ thể sẽ được công nhận là đồng tác giả khi có đóng góp mang tính sáng tạo; ngược lại nếu sự tham gia chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ hoặc thực hiện theo chỉ đạo của người khác thì không đủ cơ sở xác lập tư cách đồng tác giả.

Sự phát triển của AI đã làm thay đổi phương thức sáng tạo và đặt ra yêu cầu thay đổi cách xác định chủ thể. Việc xác lập quyền đối với sản phẩm do AI tạo ra nên xem xét mức độ tham gia của con người trong quá trình sáng tạo. Bởi vì trong quá trình sáng tạo con người vẫn giữ vai trò quyết định bao gồm việc thiết kế, định hướng và lựa chọn kết quả do AI tạo ra. Chính mức độ kiểm soát và đóng góp sáng tạo của con người là cơ sở để xác định quyền đối với sản phẩm do AI tạo ra, còn AI chỉ là công cụ hỗ trợ hoạt động sáng tạo, vì vậy cần bảo hộ các sản phẩm do AI tạo ra. Từ quan điểm của tác giả Ryan Abbott cho thấy, việc xác định chủ thể đối với sản phẩm do AI tạo ra không chỉ dựa vào chính công cụ đó mà còn có sự tham gia của con người, qua đó có thể thấy rằng con người vẫn là trung tâm của hoạt động sáng tạo.

Pháp luật Việt Nam quy định tại Điều 12a Luật Sở hữu trí tuệ “Tác giả là người trực tiếp tạo ra sản phẩm. Trường hợp có từ hai người trở lên cùng trực tiếp sáng tạo tác phẩm với chủ ý là sự đóng góp của họ được kết hợp thành một tổng thể hoàn chỉnh thì người đó là đồng tác giả”. Quyền tác giả được quy định tại khoản 2 Điều 4 là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu, bao gồm cả quyền nhân thân và quyền tài sản được pháp luật bảo vệ.

Công ước Berne 1886 không đưa ra khái niệm trực tiếp về tác giả hay quyền tác giả, thông qua các quy định về đối tượng bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật, quy định nguyên tắc đối xử quốc gia, nguyên tắc bảo hộ tự động và thực thi quyền tác giả không phụ thuộc vào bất kỳ thủ tục đăng ký nào đã khẳng định tác giả là chủ thể trung tâm của cơ chế bảo hộ quyền tác giả. Hiệp định TRIPS kế thừa các nguyên tắc của Công ước Berne 1886 và khẳng định phạm vi bảo hộ quyền tác giả chỉ áp dụng đối với các hình thức thể hiện của tác phẩm, không bảo hộ ý tưởng, quy trình, phương pháp.

Các nghiên cứu trong nước và quốc tế đã bước đầu đề cập đến vấn đề này nhưng còn để lại khoảng trống. Nhóm tác giả Lưu Minh Sang và Trần Đức Thành (2020) đã tiếp cận vấn đề AI dưới góc độ pháp lý tổng thể, bao gồm: Độ trễ của hệ thống pháp luật; Tư cách pháp lý của AI và thực thể mang AI; Quyền sở hữu trí tuệ; Quyền về dữ liệu cá nhân, quyền riêng tư; Trách nhiệm bồi thường thiệt hại liên quan đến AI. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp, các tác giả đã chỉ ra độ trễ của pháp luật Việt Nam so với tốc độ phát triển của công nghệ và đề xuất tham khảo từ hệ thống pháp luật châu Âu, nhưng chưa làm rõ cơ chế xử lý vi phạm quyền tác giả của bên thứ ba. Phạm Minh Huyền (2022) tập trung vào ngoại lệ quyền tác giả đáp ứng yêu cầu cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và kiến nghị mở rộng các trường hợp sử dụng hợp lý, song chưa đi sâu vào vấn đề xác định chủ thể đối với sản phẩm AI. Nghiên cứu của Bùi Kim Hiếu và Phạm Thị Diệu Hiền (2025) đã phân tích quy định của Liên minh Châu Âu và pháp luật một số quốc gia chỉ ra xu hướng duy trì quan điểm truyền thống chỉ công nhận tác giả là con người dẫn đến việc các sản phẩm do AI tạo ra khó được bảo hộ, nhưng chưa xây dựng được mô hình pháp lý cụ thể áp dụng cho Việt Nam. Các nghiên cứu quốc tế, Anthi Gaidartzi và Irini Stamatoudi (2025) so sánh cách tiếp cận của Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Vương quốc Anh, Trung Quốc và Nhật Bản và các cuộc thảo luận triết học xung quanh quyền tác giả và sự sáng tạo, làm rõ sự phức tạp xung quanh quyền tác giả và sự sáng tạo của AI, song chưa phân tích sâu trường hợp có nhiều chủ thể cùng tham gia. A.Kirakosyan (2023) nhấn mạnh sự mâu thuẫn giữa các sản phẩm AI với nguyên tắc lấy con người làm trung tâm và gợi ý cần xem xét khả năng công nhận phần mềm AI trong một số trường hợp nhất định.

Nhìn chung, các nghiên cứu hiện có đã chỉ ra thách thức pháp lý có bản nhưng còn hạn chế ở việc đề xuất cơ chế phân bổ quyền giữa nhà phát triển, người sử dụng và các chủ thể liên quan, cũng như giải pháp cụ thể cho Việt Nam. Đây chính là khoảng trống mà nghiên cứu này hướng tới làm rõ thông qua phân tích so sánh và dữ liệu phỏng vấn chuyên gia.

3. Phương pháp nghiên cứu

Tác giả nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu nhằm tìm hiểu quan niệm, học thuật về lĩnh vực sở hữu trí tuệ và phương pháp nghiên cứu luật học để phân tích, so sánh, đánh giá các quy định hiện hành của luật pháp ở một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam, từ đó làm cơ sở đánh giá thực trạng và đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Đồng thời, Tác giả nghiên cứu sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu 04 chuyên gia trong lĩnh vực pháp lý (ký hiệu ẩn danh PV1 – PV4) bao gồm 02 luật sư có kinh nghiệm tư vấn và tranh tụng về sở hữu trí tuệ, 02 giảng viên đại học chuyên sâu về quyền tác giả và pháp luật công nghệ. Tiêu chí lựa chọn chuyên gia gồm: có ít nhất 07 năm kinh nghiệm chuyên môn trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ; đã có công trình nghiên cứu hoặc thực tiễn liên quan đến công nghệ số/AI, đồng ý tham gia nghiên cứu và cho phép sử dụng ý kiến dưới dạng ẩn danh.

Các cuộc phỏng vấn được thực hiện từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2025, mỗi cuộc kéo dài từ 45 đến 70 phút, hình thức trực tuyến. Nội dung phỏng vấn xoay quanh bốn nhóm vấn đề chính: (1) thực trạng khoảng trống pháp lý đối với sản phẩm do AI tạo ra; (2) xác định chủ thể quyền và mức độ đóng góp sáng tạo của con người; (3) trách nhiệm khi sản phẩm AI xâm phạm quyền của bên thứ ba; (4) định hướng hoàn thiện pháp luật.

Toàn bộ nội dung trao đổi được ghi chép chi tiết, một số nội dung được chuyển thành văn bản với sự đồng ý của chuyên gia. Dữ liệu được mã hóa ẩn danh và phân tích theo phương pháp phân tích chủ đề (thematic analysis) nhằm đảm bảo tính khách quan, kiểm tra chéo trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý thuyết.

4. Thực trạng pháp luật Việt Nam và một số quốc gia về sở hữu trí tuệ đối với các tác phẩm do AI tạo ra

4.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam

Hiện nay, khung pháp lý điều chỉnh AI tại Việt Nam được điều chỉnh bởi Luật Sở hữu trí tuệ 2005, bổ sung 2025 điều chỉnh quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp.

Theo Điều 12a Luật Sở hữu trí tuệ quy định xác định tư cách tác giả “là người trực tiếp tạo ra sản phẩm” toàn bộ hoặc một phần tác phẩm bằng lao động trí tuệ của mình, không phải là việc đầu tư tài chính, sở hữu công cụ hay tổ chức thực hiện công việc. Trường hợp có từ hai người trở lên cùng trực tiếp sáng tạo tác phẩm với chủ ý là sự đóng góp của họ được kết hợp thành một tổng thể hoàn chỉnh thì người đó là đồng tác giả. Tuy nhiên, người chỉ hỗ trợ kỹ thuật, góp ý hoặc cung cấp tư liệu không được công nhận là tác giả hoặc đồng tác giả.

Theo khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”. Quyền tác giả đối với tác phẩm bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản; đối với tác phẩm có đồng tác giả việc thực hiện quyền nhân thân và quyền tài sản phải dựa trên sự thỏa thuận của các đồng tác giả nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi chủ thể. Quy định này cho thấy pháp luật Việt Nam xác định chủ thể của quyền tác giả phải là con người (cá nhân hoặc tổ chức), và tác phẩm phải do con người trực tiếp sáng tạo ra, là cơ sở để xác định tư cách pháp lý của tác giả.

Điều 6 căn cứ, xác lập quyền sở hữu trí tuệ “quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hoặc chưa công bố, đã đăng ký hoặc chưa đăng ký”. Quy định này ghi nhận nguyên tắc bảo hộ tự động, quyền tác giả được xác lập ngay khi tác phẩm đáp ứng điều kiện luật định không phụ thuộc vào bất kỳ thủ tục hành chính nào.

Việc xác định tư cách tác giả không chỉ dựa vào việc hình thành tác phẩm mà còn dựa vào tính đóng góp mang tính nguyên gốc của chủ thể sáng tạo được thể hiện trong tác phẩm thông qua các dấu ấn riêng trong quá trình thể hiện ý tưởng. Quyền tác giả phát sinh ngay khi tác phẩm được định hình dưới dạng vật chất nhất định và việc đăng ký chỉ nhằm xác lập chứng cứ về quyền. Vì vậy, người chưa đủ 18 tuổi nếu là tác giả hoặc chủ sở hữu hợp pháp của tác phẩm, hoàn toàn có thể đứng tên nộp hồ sơ đăng ký bảo hộ quyền tác giả, chỉ cần hồ sơ và thủ tục đáp ứng các quy định pháp luật.

Việc xác định tư cách tác giả trên cơ sở theo Điều 12a “là người trực tiếp tạo ra sản phẩm” phù hợp với nguyên tắc bảo hộ quyền tác giả của Công ước Berne và Hiệp định TRIPS, bảo đảm quyền tác giả gắn với lao động sáng tạo của con người. Đây cũng là cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết các tranh chấp về quyền tác giả và thúc đẩy hoạt động sáng tạo trong thực tiễn; cùng với cơ chế bảo hộ tự động ở Điều 6 bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả ngay khi tác phẩm được hình thành; cơ chế này giúp đơn giản hóa thủ tục xác lập quyền, giảm chi phí và thời gian đăng ký, qua đó khuyến khích hoạt động sáng tạo và tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác, bảo vệ quyền tác giả trong thực tiễn.

Tuy vậy, trong trường hợp tác phẩm do tổ chức, cá nhân sáng tạo kết hợp với AI thì các cá nhân, tổ chức có được xem là tác giả của sản phẩm đó theo pháp luật hiện hành và có đủ điều kiện để tác giả chuyển giao quyền sở hữu AI cho cá nhân, tổ chức khác theo khoản 6 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ “Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ là chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ hoặc tổ chức, cá nhân được chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ” hay không vẫn là câu hỏi chưa được giải đáp. Khoảng trống này khiến việc xác định tác giả hoặc quyền sở hữu trong các tác phẩm kết hợp giữa AI và con người trở nên thiếu chắc chắn, dẫn đến nguy cơ tranh chấp giữa người sáng tạo nội dung, nhà phát triển phần mềm và các đơn vị khai thác thương mại.

Về hoạt động sử dụng tác phẩm có bản quyền để huấn luyện AI. Theo khoản 10 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ quy định “Sao chép là việc tạo ra bản sao của toàn bộ hoặc một phần tác phẩm hoặc bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào”. Từ quy định này có thể thấy rằng, việc sử dụng tác phẩm làm dữ liệu đầu vào cho quá trình huấn luyện AI thường gắn liền với hoạt động sao chép. Trong thực tế, khi một tổ chức hoặc cá nhân thu thập các tác phẩm như hình ảnh, văn bản, âm thanh hoặc video để đưa vào hệ thống dữ liệu huấn luyện AI, hệ thống sẽ sao chép các tác phẩm đó vào dữ liệu để phục vụ việc phân tích và xử lý thông tin; từ nguồn dữ liệu này AI có thể tạo ra nội dung mới.

Mặc dù pháp luật Việt Nam đã bổ sung quy định cho phép sử dụng tác phẩm có bản quyền để huấn luyện AI (khoản 5 Điều 7 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2025 và Nghị định số 134/2026/NĐ-CP), các quy định này vẫn còn khá chung và chưa giải quyết triệt để nhiều vấn đề thực tiễn như cơ chế xác định và thực thi quyền bảo lưu, việc trả tiền bản quyền khi huấn luyện AI mang tính thương mại, cũng như trách nhiệm của các bên liên quan khi sử dụng khối lượng dữ liệu lớn, trong đó có nhiều dữ liệu có thể đang được bảo hộ quyền tác giả.

4.2. Thực trạng pháp luật một số quốc gia

Trung Quốc hiện nay đang áp dụng Luật Bản quyền sửa đổi năm 2020. Theo Điều 11 của luật này, quyền tác giả thuộc về người tạo ra tác phẩm là cá nhân tự nhiên hoặc thuộc về sự chỉ đạo của một pháp nhân hoặc tổ chức phi lợi nhuận. Bên cạnh đó, Điều 3 quy định tác phẩm là thành quả trí tuệ trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học, có tính độc sáng và có thể được thể hiện dưới một hình thức nhất định, tại khoản 9 Điều này, phạm vi tác phẩm còn bảo gồm “những thành tựu trí tuệ khác phù hợp với đặc điểm của một số tác phẩm” có tính nguyên gốc và được thể hiện dưới hình thức nhất định. Quy định này phản ánh tư duy lập pháp linh hoạt, không đóng khung các loại hình sáng tạo, mở rộng phạm vi bảo hộ nhằm bắt kịp sự thay đổi của công nghệ; do đó việc sử dụng AI không đương nhiên làm mất khả năng được bảo hộ quyền tác giả nếu AI chỉ đóng vai trò là công cụ hỗ trợ và con người vẫn đóng vai trò chính trong quá trình sáng tạo. Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định này đối với sản phẩm do AI tạo ra vẫn còn nhiều vấn đề cần được tiếp tục làm rõ, đặc biệt liên quan đến việc xác định mức độ đóng góp sáng tạo của con người. Đây cũng là vấn đề được đặt ra trong pháp luật của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khi yếu tố sáng tạo của con người vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc xác định khả năng bảo hộ quyền tác giả.

Trên thực tiễn, trong vụ án Li Yunkai v. Liu Yuanchun, Tòa án Internet Bắc Kinh đã xác định hình ảnh được tạo ra bằng công cụ AI có thể được bảo hộ quyền tác giả nếu người sử dụng AI thể hiện được sự lao động bằng trí óc của bản thân thông qua việc thiết kế câu lệnh, lựa chọn tham số, điều chỉnh và sàng lọc kết quả đầu ra. Những hoạt động này được xem là thể hiện sự lựa chọn, phán đoán thẩm mỹ và đầu tư trí tuệ của con người, qua đó đáp ứng yêu cầu về tính nguyên gốc của tác phẩm. Phán quyết này cho thấy việc sử dụng AI như một công cụ hỗ trợ không loại trừ khả năng bảo hộ quyền tác giả; vấn đề quan trọng là phải đánh giá mức độ đóng góp sáng tạo và biểu đạt cá nhân của con người trong quá trình tạo ra sản phẩm. Nhưng cũng cần lưu ý rằng phán quyết được đưa ra dựa trên cơ sở các tình tiết cụ thể của vụ án và không đồng nghĩa với mọi sản phẩm do AI tạo ra đều đương nhiên được bảo hộ quyền tác giả.

Các quốc gia châu Á khác như Nhật Bản, Singapore và Hàn Quốc đều duy trì nguyên tắc lấy con người làm trung tâm trong việc xác định tư cách tác giả. Tại Nhật Bản (Agency for Cultural Affairs, 2024) xác định sản phẩm do AI tạo ra tự động, không có sự tham gia đóng góp sáng tạo của con người thì không được coi là tác phẩm; chỉ khi con người có đóng góp sáng tạo vào quá trình tạo ra sản phẩm như thiết kế câu lệnh, lựa chọn và chỉnh sửa kết quả thì mới có thể được công nhận quyền tác giả. Singapore theo Luật Bản quyền 2021 cũng yêu cầu tác giả là con người, nhưng có ngoại lệ phân tích dữ liệu tính toán khá rộng (Điều 243 – 244) cho phép sử dụng tác phẩm để huấn luyện AI. Tại Hàn Quốc (Hướng dẫn 2025 của Bộ Văn hóa và Ủy ban Bản quyền) chỉ cho đăng ký bảo hộ những sản phẩm có sự đóng góp sáng tạo rõ ràng của con người; sản phẩm thuần túy do AI tạo ra không được bảo hộ.

Tại Liên minh Châu Âu (EU), hiện chưa có quy định thống nhất về bảo hộ quyền tác giả đối với sản phẩm do AI tạo ra. Theo án lệ của Tòa án Công lý Liên minh Châu Âu (CJEU) thì tác phẩm chỉ được bảo hộ khi phản ánh sáng tạo trí tuệ của con người. Đạo luật AI (AI Act 2024) không quy định trực tiếp về tư cách tác giả nhưng yêu cầu nhà cung cấp mô hình AI đa mục đích phải tuân thủ luật bản quyền, tôn trọng quyền bảo lưu của chủ thể quyền và công bố tóm tắt dữ liệu huấn luyện (Điều 53), đồng thời có nghĩa vụ minh bạch nội dung do AI tạo ra (Điều 50). Nghị quyết của Nghị viện Châu Âu năm 2026 khẳng định nội dung hoàn toàn do AI tạo ra không đủ điều kiện bảo hộ quyền tác giả.

Vương quốc Anh là một trong số ít quốc gia có quy định riêng về tác phẩm do máy tính tạo ra (computer – generated works). Theo khoản 3 Điều 9 trong Đạo luật Bản quyền, Kiểu dáng và Bằng sáng chế năm 1988 (CDPA 1988), đối với tác phẩm được tạo ra bởi máy tính mà không có tác giả là con người, tác giả được xác định là người thực hiện các sắp xếp cần thiết để tạo ra tác phẩm. Khoản 7, Điều 12 luật này cũng quy định thời hạn bảo hộ đối với loại tác phẩm này là 50 năm kể từ khi tác phẩm được tạo ra. Cơ chế này đặt ra một vấn đề lý luận đáng chú ý đối với yêu cầu về tính nguyên gốc, việc bảo hộ cho các sản phẩm không có tác giả con người tạo ra sự mâu thuẫn nội tại với tiêu chuẩn tính nguyên gốc vốn dựa trên sự sáng tạo trí tuệ của con người. Vì vậy, việc áp dụng Điều 9 cho các sản phẩm do AI tạo sinh vẫn còn gây ra nhiều tranh cãi.

Trên thực tế, trong vụ án Nova Productions Ltd kiện Mazooma Games Ltd và Bell-Fruit Games Ltd vào năm 2006 với cáo buộc sao chép trò chơi điện tử, Tòa án Phúc thẩm Anh xác định Mazooma không sao chép mã nguồn hay các yếu tố thể hiện cụ thể của trò chơi mà chỉ sử dụng ý tưởng và cơ chế hoạt động tương tự. Tòa án nhấn mạnh nguyên tắc phân biệt giữa ý tưởng và hình thức thể hiện: quyền tác giả bảo hộ là sự thể hiện của ý tưởng chứ không bảo hộ bản thân ý tưởng; đối với chương trình máy tính, các ý tưởng và nguyên tắc làm nền tảng cho chương trình cũng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả. Do đó, Tòa bác yêu cầu của Nova. Phán quyết khẳng định quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức thể hiện của tác phẩm, không bảo hộ ý tưởng, quy tắc hay chức năng. Đây là nguyên tắc quan trọng trong việc đánh giá các tranh chấp về tác phẩm do AI tạo ra.

Tại Hoa Kỳ, quyền tác giả được điều chỉnh chủ yếu bởi Luật Bản quyền năm 1976. Hiện nay, Luật Bản quyền của Hoa Kỳ chưa có quy định riêng về tác phẩm do AI tạo ra mà chủ yếu vận dụng các nguyên tắc truyền thống về quyền tác giả để giải quyết những vấn đề pháp lý mới phát sinh. Theo đó, quy định quyền tác giả chỉ được xác lập đối với những tác phẩm nguyên gốc và được thể hiện dưới những hình thức cụ thể. Quy định này đặt ra yêu cầu tính nguyên gốc của tác phẩm là sản phẩm được hình thành từ sự sáng tạo của con người. Theo cách tiếp cận của Hoa Kỳ quá trình xử lý dữ liệu, phân tích thông tin và tạo ra nội dung của AI về bản chất là hoạt động vận hành tự động của hệ thống công nghệ, không phải là sáng tạo mang tính trí tuệ của con người. Theo cách tiếp cận này, vấn đề trọng tâm không nằm ở việc AI có được sử dụng trong quá trình tạo ra các tác phẩm hay không mà ở việc xác định mức độ đóng góp sáng tạo của con người đối với phần biểu đạt được yêu cầu bảo hộ. Cách tiếp cận này của Hoa Kỳ cho thấy sự khác biệt với Vương Quốc Anh, trong khi Vương quốc Anh quy định cơ chế bảo hộ đối với tác phẩm do máy tính tạo ra, trong trường hợp không xác định được tác giả là con người thì tác giả được xác định là người đã thực hiện các sắp xếp cần thiết thì Hoa Kỳ đặt yêu cầu người sáng tạo là con người.

5. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Sau khi hoàn thành quá trình phỏng vấn chuyên gia, tác giả nghiên cứu tiến hành tổng hợp, mã hóa, ghi chép và đối chiếu toàn bộ nội dung trao đổi nhằm bảo đảm tính chính xác và độ tin cậy của dữ liệu nghiên cứu.

Về thực trạng pháp luật, kết quả phỏng vấn cho thấy các chuyên gia có sự thống nhất tương đối cao về nhận định rằng pháp luật hiện hành còn nhiều khoảng trống trong việc điều chỉnh sản phẩm do AI tạo ra. Những vấn đề được đề cập đến bao gồm việc chưa xác định rõ chủ thể quyền và chưa có tiêu chí đánh giá mức độ đóng góp sáng tạo của con người. Bên cạnh đó, các quy định về dữ liệu huấn luyện AI, trách nhiệm pháp lý khi AI xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và cơ chế phân bổ quyền, lợi ích giữa các chủ thể liên quan vẫn chưa đầy đủ. Theo các chuyên gia được phỏng vấn, đây là những vấn đề cần sớm được hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của công nghệ AI và bảo đảm sự thống nhất trong áp dụng pháp luật.

Về chủ thể quyền, các chuyên gia cơ bản thống nhất rằng người sử dụng AI có đóng góp sáng tạo thực chất có vị trí quan trọng trong việc xác lập quyền đối với sản phẩm được tạo ra. Tuy nhiên, có nhiều ý kiến khác biệt giữa các chuyên gia, PV1 và PV3 nghiêng về hướng đề xuất trao quyền cho người sử dụng khi họ có đóng góp sáng tạo, trong khi ý kiến của PV2 và PV4 là đề xuất cơ chế phân chia linh hoạt giữa quyền nhân thân (gắn với người có đóng góp sáng tạo) và quyền tài sản cho các chủ thể (có thể thuộc về nhà phát triển hoặc chủ sở hữu hệ thống AI tùy theo thỏa thuận). PV4 còn gợi ý phân loại sản phẩm theo mức độ đóng góp của con người để xác định cơ chế bảo hộ phù hợp. Những khác biệt này cho thấy vấn đề không chỉ nằm ở việc xác định ai là tác giả, mà còn ở việc thiết kế một cơ chế quyền linh hoạt phù hợp với đặc điểm của sản phẩm được tạo ra bằng AI. Nhóm tác giả nhận thấy điểm chung xuyên suốt là nguyên tắc “lấy con người làm trung tâm”: AI chỉ được xem là công cụ hỗ trợ, không phải chủ thể quyền. Sự phân hóa chỉ nằm ở cách thức thiết kế cơ chế phân bổ quyền và mức độ bảo hộ, chứ không phủ nhận vai trò quyết định của yếu tố sáng tạo con người.

Đối với trách nhiệm khi sản phẩm AI xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của bên thứ ba, các chuyên gia không ủng hộ việc quy trách nhiệm tuyệt đối cho một chủ thể. Trách nhiệm cần được xem xét dựa trên vai trò, lỗi, khả năng kiểm soát và lợi ích mà chủ thể nhận được từ hoạt động sử dụng AI. Người sử dụng có thể chịu trách nhiệm khi cố ý sử dụng câu lệnh để tạo ra nội dung xâm phạm; nhà phát triển hoặc nhà cung cấp nền tảng có thể phải chịu trách nhiệm khi không kiểm soát hệ thống hoặc sử dụng dữ liệu huấn luyện trái phép. Cả bốn chuyên gia đều cho rằng không nên cấm tuyệt đối hoạt động khai thác dữ liệu để huấn luyện AI. Hướng tiếp cận được đề xuất là xây dựng ngoại lệ có điều kiện, gắn với yêu cầu tiếp cận dữ liệu hợp pháp, minh bạch nguồn dữ liệu, cơ chế kiểm soát để bảo vệ quyền và lợi ích của chủ thể quyền, và phải có bù đắp lợi ích khi khai thác thương mại. Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng bởi dữ liệu đầu vào không chỉ ảnh hưởng đến quá trình phát triển AI mà còn có thể tác động trực tiếp đến tính hợp pháp của sản phẩm được tạo ra.

Về giải pháp, các ý kiến có điểm chung là cần xây dựng cơ chế pháp lý phù hợp hơn đối với sản phẩm AI thay vì chỉ áp dụng máy móc các quy định dành cho tác phẩm truyền thống. Các đề xuất tập trung vào việc xác định mức độ đóng góp sáng tạo của con người, minh bạch và truy xuất dữ liệu huấn luyện, kiểm soát sản phẩm đầu ra, hoàn thiện cơ chế phân bổ trách nhiệm và nghiên cứu các công cụ kỹ thuật hỗ trợ chứng minh. Khác biệt giữa các chuyên gia chủ yếu nằm ở cách thức thiết kế cơ chế quyền và mức độ bảo hộ, từ việc trao quyền cho người sử dụng, phân chia quyền, thiết lập quyền liên quan đến xây dựng cơ chế bảo hộ riêng.

Từ kết quả trên có thể nhận thấy các chuyên gia có sự thống nhất cao về định hướng lấy con người làm trung tâm đồng thời cho rằng pháp luật cần có cơ chế linh hoạt để thích ứng với sự đa dạng của các sản phẩm được tạo ra với sự hỗ trợ của AI. Kết quả phỏng vấn cũng cho thấy ba vấn đề cần được ưu tiên nghiên cứu gồm: xác định mức độ đóng góp sáng tạo của con người, quản lý dữ liệu huấn luyện và phân bổ trách nhiệm khi sản phẩm AI xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Đây là cơ sở thực tiễn quan trọng để đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam theo hướng vừa bảo đảm quyền và lợi ích của chủ thể quyền, vừa tạo điều kiện cho hoạt động nghiên cứu, phát triển và khai thác AI.

6. Các kiến nghị giải pháp đề xuất cho Việt Nam về vấn đề sở hữu trí tuệ đối với các sản phẩm do AI tạo ra

Dựa trên kết quả so sánh pháp luật và dữ liệu phỏng vấn chuyên gia, nhóm tác giả đề xuất các giải pháp theo thứ tự ưu tiên từ ngắm hạn đến dài hạn, nhằm bảo đảm tính khả thi và hiệu quả.

Thứ nhất, tham khảo kinh nghiệm quốc tế và đề xuất các giải pháp về vấn đề pháp lý

Từ kinh nghiệm lập pháp của Hoa Kỳ và Trung Quốc, Việt Nam có thể định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng kết hợp hài hòa giữa bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong bối cảnh AI. Nhóm tác giả cho rằng Việt Nam không nên công nhận AI là chủ thể của quyền sở hữu trí tuệ, bởi AI không có tư cách pháp lý, ý chí độc lập và không thể thực hiện các quyền, nghĩa vụ pháp lý như con người. Tuy nhiên, pháp luật cũng không nên duy trì hoàn toàn cách tiếp cận truyền thống, vì điều này sẽ tạo ra khoảng trống pháp lý đối với các sản phẩm được tạo ra với sự hỗ trợ ngày càng lớn của AI.

Hiện nay, Luật chưa làm rõ khái niệm “tác giả” một cách trực tiếp mà chỉ gián tiếp thông qua tiêu chí “sáng tạo”. Điều này dẫn đến cách hiểu tác giả phải là con người có hoạt động sáng tạo mang tính trí tuệ. Trong bối cảnh AI tạo ra nội dung, tiêu chí này trở nên chưa đủ rõ để xác định chủ thể. Vì vậy, cần làm rõ lại khái niệm tác giả để phù hợp với thực tiễn mới. Ý kiến của tác giả nên mở rộng và làm rõ khái niệm “tác giả” trong pháp luật sở hữu trí tuệ bao gồm cả người sử dụng câu lệnh khi dùng công nghệ AI, tuy nhiên người sử dụng phải có sự đóng góp sáng tạo qua câu lệnh, ý tưởng và kiểm soát đầu ra thì mới có cơ sở xem xét lập quyền tác giả.

Thứ hai, hoàn thiện cơ chế quản lý dữ liệu huấn luyện và minh bạch, kiểm soát quá trình tạo sản phẩm AI

Cần quy định rõ điều kiện sử dụng dữ liệu có bản quyền để huấn luyện AI, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền. Nhà phát triển AI cần lưu trữ và có khả năng truy xuất nguồn dữ liệu huấn luyện khi phát sinh tranh chấp. Đồng thời, cần yêu cầu ghi nhận những thông tin cần thiết về quá trình tạo sản phẩm để xác định nguồn gốc và trách nhiệm của các chủ thể liên quan. Đối với sản phẩm đầu ra, cần nghiên cứu áp dụng watermark hoặc công cụ xác minh nguồn gốc nhằm nhận diện sản phẩm do AI tạo ra. Cơ chế này vừa tăng tính minh bạch, vừa hỗ trợ xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền trong môi trường số.

Thứ ba, hoàn thiện cơ chế phân bổ trách nhiệm và tăng cường quản trị rủi ro trong việc sử dụng AI

Cần phân định rõ trách nhiệm của người sử dụng, nhà phát triển và nhà cung cấp nền tảng dựa trên vai trò, mức độ kiểm soát và lỗi của từng chủ thể. Người sử dụng phải kiểm tra tính hợp pháp của yêu cầu đầu vào và sản phẩm đầu ra trước khi khai thác hoặc thương mại hóa. Nhà phát triển và nhà cung cấp nền tảng cần xây dựng các biện pháp kỹ thuật nhằm hạn chế việc tạo ra nội dung có dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Doanh nghiệp cần ban hành quy chế sử dụng AI và đào tạo nhân viên về quyền sở hữu trí tuệ, quyền riêng tư và bảo mật thông tin. Cách tiếp cận này giúp phòng ngừa vi phạm từ đầu, đồng thời tạo căn cứ rõ ràng để xác định trách nhiệm khi tranh chấp phát sinh.

Thứ tư, tăng cường cơ chế bảo vệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm AI

Cần hoàn thiện cơ chế phát hiện và xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ do sản phẩm AI tạo ra. Cơ quan có thẩm quyền cần nâng cao năng lực giám định kỹ thuật số để xác định sản phẩm được tạo ra có sao chép hoặc tương đồng với tác phẩm được bảo hộ hay không. Việc xác minh có thể dựa trên các thông tin như câu lệnh, dữ liệu đầu vào, lịch sử tạo sản phẩm và quá trình chỉnh sửa. Đồng thời, cần quy định rõ cách thu thập và sử dụng các chứng cứ điện tử này khi giải quyết tranh chấp, khi có tranh chấp; các chứng cứ trên sẽ giúp xác định nguồn gốc sản phẩm, mức độ đóng góp của con người và hành vi xâm phạm nếu có. Qua đó, cơ quan có thẩm quyền có cơ sở chính xác hơn để xác định trách nhiệm và áp dụng biện pháp xử lý phù hợp. Việc hoàn thiện cơ chế thực thi sẽ giúp quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm AI được bảo vệ hiệu quả hơn trong thực tế.

7. Kết luận

Nghiên cứu đã phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam và một số quốc gia tiêu biểu về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với các sản phẩm do AI tạo ra, đồng thời kết hợp phỏng vấn sâu 04 chuyên gia trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Kết quả cho thấy pháp luật Việt Nam hiện hành vẫn dựa trên nguyên tắc lấy con người làm trung tâm nhưng còn thiếu tiêu chí cụ thể để xác định mức độ đóng góp sáng tạo, cơ chế quản lý dữ liệu huấn luyện và phân bổ trách nhiệm giữa các chủ thể liên quan.

Đóng góp chính của nghiên cứu là kết hợp phân tích so sánh pháp luật với phỏng vấn dữ liệu từ chuyên gia, từ đố đề xuất lộ trình hoàn thiện theo hướng ưu tiên các giải pháp có tính khả thi cao. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI.

Nghiên cứu vẫn còn một số hạn chế về phạm vi so sánh quốc tế và quy mô mẫu phỏng vấn. Các hướng nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào: Xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp cụ thể đối với sản phẩm AI – generated; làm rõ trách nhiệm của các nền tảng cung cấp dịch vụ AI; nghiên cứu tiêu chí định lượng để đánh giá mức độ đóng góp sáng tạo của con người trong quá trình sử dụng AI. Những nghiên cứu này cần được tiếp tục làm rõ hoàn thiện hơn nữa khung pháp lý sở hữu trí tuệ trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo.

Tài liệu tham khảo

  1. Abbott, R. (2020). The Reasonable Robot: Artificial Intelligence and the Law. Cambridge University Press.
  2. Agency for Cultural Affairs (Japan). (2024). General Understanding on AI and Copyright in Japan.
  3. Bùi Kim Hiếu & Phạm Thị Diệu Hiền. (2025). Pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm được tạo ra bởi AI theo quy định của Liên minh Châu Âu và một số quốc gia trên thế giới. Tạp chí Công Thương - Các kết quả nghiên cứu, 1(1).
  4. Copyright Law of the People’s Republic of China (amended 2020).
  5. Đặng Hồng Hạnh & Sơn Trần. (2025). Decision Lab: 78% cư dân mạng Việt Nam đã sử dụng AI. Tech Connect.
  6. European Parliament. (2026). Resolution on Copyright and Generative Artificial Intelligence (10 March 2026).
  7. European Union Intellectual Property Office (EUIPO). (2025). The Development of Generative Artificial Intelligence from a Copyright Perspective. https://www.euipo.europa.eu/en/news/euipo-releases-study-on-generative-artificial-intelligence-and-copyright
  8. FPT Cloud. (2025). Toàn cảnh AI toàn cầu: Xu hướng, thách thức và triển vọng tương lai.
  9. Gaidartzi, A., & Stamatoudi, I. (2025). Authorship and ownership issues raised by AI-generated works: A comparative analysis. Laws, 14(4), 57. https://doi.org/10.3390/laws14040057
  10. Ginsburg, J. C. (2003). The concept of authorship in comparative copyright law. Columbia Journal of Law & the Arts, 52, 1063–1092.
  11. Intellectual Property Office of Singapore (IPOS). (n.d.). How does Singapore law treat AI-generated content? https://www.ipos.gov.sg/about-ip/copyright/copyright-resources/
  12. Kirakosyan, A. (2023). Intellectual property ownership of AI-generated content. Digital Law Journal, 4, 40.
  13. Kretschmer, M., Meletti, B., & Porangaba, L. H. (2022). Artificial intelligence and intellectual property: Copyright and patents – A response by the CREATe Centre to the UK Intellectual Property Office’s open consultation. Journal of Intellectual Property Law & Practice, 17(3), 321–326.
  14. Lưu Minh Sang & Trần Đức Thành. (2020). AI và những thách thức pháp lý. European Research Studies Journal, 21(4), 773–782.
  15. Ministry of Culture, Sports and Tourism & Korea Copyright Commission. (2025a). Guide to Copyright Registration for Generative AI-Assisted Works. https://www.copyright.or.kr/eng/doc/etc_pdf/Guide_to_Copyright_Registration_for_Generative_AI-Assisted_Works.pdf
  16. Ministry of Culture, Sports and Tourism & Korea Copyright Commission. (2025b). Guide to Preventing Copyright Disputes Related to Generative AI Outputs. https://www.copyright.or.kr/eng/doc/etc_pdf/Guide_to_Preventing_Copyright_Disputes_Related_to_Generative_AI_Outputs.pdf
  17. Nova Productions Ltd v Mazooma Games Ltd [2007] EWCA Civ 219.
  18. Phạm Minh Huyền. (2022). Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về ngoại lệ quyền tác giả trong cách mạng công nghệ 4.0. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Mở Hà Nội.
  19. Peukert, A. (2024). Copyright in the Artificial Intelligence Act – A Primer. GRUR International, 73(6), 497–509. https://doi.org/10.1093/grurint/ikae057
  20. Regulation (EU) 2024/1689 of the European Parliament and of the Council of 13 June 2024 laying down harmonised rules on artificial intelligence (Artificial Intelligence Act). https://eur-lex.europa.eu/eli/reg/2024/1689/oj
  21. Trần Nam. (2025). Công bố Báo cáo “Nền kinh tế AI Việt Nam 2025”. Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính.
  22. U.S. Copyright Office. (n.d.). Copyright Law of the United States and Related Laws Contained in Title 17 of the United States Code. https://www.copyright.gov/title17/
  23. Văn phòng Quốc hội. (2025). Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
  24. Winger, A. (2024). Beijing Internet Court releases translation of Li v. Liu recognizing copyright in generative AI. China IP Law Update.
  25. World Intellectual Property Organization. (1886/1979). Berne Convention for the Protection of Literary and Artistic Works (as amended on September 28, 1979).
  26. World Trade Organization. (1994). Agreement on Trade-Related Aspects of Intellectual Property Rights (TRIPS Agreement).

theo LÊ THỊ HIỀN

Giảng viên Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Bình Dương

NGUYỄN THỊ KIỀU PHƯƠNG

Sinh viên ngành Luật, Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Bình Dương - Tạp chí lao động Việt Nam

https://lsvn.vn/quyen-tac-gia-doi-voi-san-pham-do-ai-tao-ra-kinh-nghiem-quoc-te-va-kien-nghi-cho-viet-nam-a178773.html

Tin liên quan

Xây dựng Đảng bộ thật sự trong sạch, vững mạnh, nâng tầm nghiên cứu và năng lực tư vấn chính sách - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Ủy ban Dân nguyện và Giám sát khảo sát công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo tại phường Hồng Bàng, TP. Hải Phòng - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Kiến nghị hoàn thiện tội "Lừa dối khách hàng" trong nền kinh tế số - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Học Bác trong giai đoạn mới: Nhìn đúng, nghĩ sâu, quyết định đúng, hành động hiệu quả - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Siết chặt kỷ luật lập pháp, không vì tiến độ mà hạ thấp chất lượng - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Số định danh cá nhân đang thay thế những loại mã số nào? - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Dân nguyện đi từ nghe dân đến hiểu dân, giải quyết việc của dân - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Đồng bộ pháp luật, cắt giảm thủ tục, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Kiểm tra, rà soát hoạt động thu phí điện tử đường bộ - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Ngày 24/8, Quốc hội thông qua 9 luật và 14 nghị quyết quan trọng - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Cán bộ thực hiện đề xuất đổi mới, sáng tạo được bổ sung cơ chế miễn, giảm hoàn trả - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Bảo đảm phân hóa trách nhiệm hình sự, phản ánh đúng mức độ nguy hiểm của từng nhóm hành vi - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
TAND tỉnh Tuyên Quang nâng cao trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trên không gian mạng - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Phó Thủ tướng yêu cầu khắc phục triệt để tình trạng chậm, nợ văn bản - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Bộ Công an giải thích cơ chế không truy cứu hình sự cán bộ dám nghĩ, dám làm - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
48 bị cáo trong đường dây lừa đảo có tổ chức hầu tòa - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Một số loại giấy tờ người dân cần tích hợp vào ứng dụng VNeID - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Hòa giải ở cơ sở phải có công cụ nhận diện và “điểm dừng pháp lý” rõ ràng - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Quốc hội bàn Nghị quyết về phòng, chống tội phạm và công tác tư pháp - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Kiểm soát quyền lực và giải phóng sức sáng tạo: Mối quan hệ biện chứng trong thực thi công vụ theo tinh thần Chỉ thị số 07-CT/TW - Cập nhật: 26/02/2025 09:38