Đặt vấn đề
Một người dân chưa từng thành lập doanh nghiệp, không tham gia điều hành, không thực hiện bất kỳ giao dịch kinh doanh nào nhưng bất ngờ phát hiện mình đang đứng tên giám đốc, người đại diện theo pháp luật của một công ty. Điều đáng lo ngại hơn là doanh nghiệp đó đã phát sinh những giao dịch có dấu hiệu bất thường, trong khi người bị đứng tên phải trải qua nhiều thủ tục để chứng minh mình không liên quan.
Đây không còn là tình huống giả định. Ngày 24/10/2026, Báo Tiền Phong phản ánh trường hợp ông Ngô Mạnh Quyền, trú tại Đồng Nai, phát hiện mình đang đứng tên giám đốc, người đại diện theo pháp luật của một doanh nghiệp được đăng ký thành lập từ tháng 12/2023 tại Hậu Giang trước đây, nay thuộc thành phố Cần Thơ. Doanh nghiệp có vốn điều lệ đăng ký 8,8 tỷ đồng. Theo thông tin cơ quan thuế được báo chí dẫn lại, doanh nghiệp phát sinh dữ liệu hóa đơn có dấu hiệu bất thường và không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký.
Sau khi phát hiện sự việc, ông Quyền gửi đơn đến các cơ quan chức năng đề nghị xác minh, xử lý. Tuy nhiên, cơ quan đăng ký kinh doanh thông tin rằng doanh nghiệp đã được yêu cầu báo cáo và nếu không thực hiện nghĩa vụ báo cáo trong thời hạn luật định thì mới có căn cứ thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy trình đang áp dụng. Thời hạn được đề cập là sáu tháng kể từ ngày hết hạn gửi báo cáo.
Vụ việc đặt ra một câu hỏi: Vì sao pháp luật có thể tạo điều kiện để một doanh nghiệp được đăng ký thành lập trong thời gian rất ngắn, nhưng khi một người dân phản ánh mình bị sử dụng trái phép danh tính, quá trình xác minh và xử lý lại có thể kéo dài nhiều tháng?
Bộ Tài chính đã tiếp nhận phản ánh về khoảng 4.000 trường hợp cá nhân nghi bị sử dụng thông tin để thành lập doanh nghiệp mà họ không biết. Đây là số trường hợp phản ánh, chưa phải toàn bộ đã được cơ quan có thẩm quyền kết luận có hành vi giả mạo. Tuy nhiên, số lượng phản ánh này cho thấy sự cần thiết phải đánh giá lại khả năng phòng ngừa và xử lý rủi ro của hệ thống đăng ký doanh nghiệp.
Ảnh minh hoạ. Nguồn: Internet.
1. Nguyên tắc tự kê khai, tự chịu trách nhiệm và giới hạn trong bảo vệ danh tính cá nhân
Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 03/2022/QH15 và Luật số 76/2025/QH15, xây dựng cơ chế đăng ký doanh nghiệp theo hướng tạo thuận lợi cho việc gia nhập thị trường.
Khoản 5 Điều 26 Luật Doanh nghiệp quy định trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ, cơ quan đăng ký kinh doanh có trách nhiệm xem xét tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và cấp đăng ký doanh nghiệp. Trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ hoặc bị từ chối, cơ quan đăng ký kinh doanh phải thông báo bằng văn bản theo quy định. Điều 27 của Luật quy định các điều kiện cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Trong khi đó, khoản 1 Điều 4 Nghị định số 168/2025/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Nghị định số 296/2026/NĐ-CP, tiếp tục khẳng định nguyên tắc người thành lập doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp tự kê khai hồ sơ và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp, trung thực, chính xác của những thông tin đã kê khai.
Khoản 3 Điều 4 Nghị định số 168/2025/NĐ-CP quy định cơ quan đăng ký kinh doanh chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, không chịu trách nhiệm về những vi phạm pháp luật của doanh nghiệp và người thành lập doanh nghiệp. Cơ chế này có cơ sở hợp lý trong việc bảo đảm quyền tự do kinh doanh. Nếu cơ quan đăng ký kinh doanh phải xác minh toàn bộ hoạt động, điều kiện tài chính hoặc ý chí thực tế của mọi chủ thể trước khi thành lập doanh nghiệp, thủ tục hành chính sẽ trở nên phức tạp, tốn kém và có nguy cơ quay trở lại mô hình tiền kiểm nặng nề.
Tuy nhiên, cần phân biệt trách nhiệm đối với tính trung thực của thông tin kê khai với trách nhiệm bảo đảm danh tính của cá nhân được ghi nhận trong hồ sơ. Người đăng ký có thể chịu trách nhiệm về hành vi kê khai gian dối. Nhưng người bị mạo danh không phải là người đăng ký và cũng không phải chủ thể tự nguyện tham gia quan hệ pháp lý đó. Vì vậy, không thể lấy nguyên tắc người đăng ký tự chịu trách nhiệm để giải quyết toàn bộ hậu quả phát sinh từ việc sử dụng trái phép danh tính người khác.
Ở đây tồn tại ba vấn đề pháp lý cần được phân biệt.
Một là thông tin về họ tên, số định danh cá nhân và địa chỉ có chính xác hay không.
Hai là người thực hiện thủ tục đăng ký có đúng là người được xác thực danh tính hay không.
Ba là người được ghi nhận với tư cách chủ sở hữu, thành viên hoặc người đại diện theo pháp luật có thực sự thể hiện ý chí đồng ý tham gia doanh nghiệp hay không.
Thông tin nhân thân chính xác không đương nhiên chứng minh ý chí tham gia một quan hệ pháp luật. Đây là giới hạn cần được nhận diện khi tiếp tục hoàn thiện nguyên tắc tự kê khai, tự chịu trách nhiệm trong Luật Doanh nghiệp.
2. Xác thực qua VNeID là bước tiến nhưng chưa thay thế toàn bộ cơ chế xác nhận ý chí
Nhằm hạn chế nguy cơ mạo danh, Bộ Tài chính đã triển khai quy trình xác thực điện tử trong hoạt động đăng ký doanh nghiệp. Cần xác định chính xác rằng Luật Doanh nghiệp không trực tiếp quy định mọi thủ tục đăng ký doanh nghiệp từ ngày 21/7/2026 phải xác thực qua ứng dụng VNeID.
Theo thông báo trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp ngày 21/7/2026, Bộ Tài chính triển khai quy trình xác thực điện tử đối với người nộp hồ sơ và người ủy quyền nộp hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp từ ngày 21/7/2026. Tiếp đó, Nghị định số 296/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 23/7/2026, sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung của Nghị định số 168/2025/NĐ-CP.
Đáng chú ý, khoản 5 Điều 12 sau khi được sửa đổi quy định người ủy quyền và người được ủy quyền phải xác thực điện tử để được cấp đăng ký doanh nghiệp đối với những thủ tục được liệt kê, trong đó có đăng ký thành lập doanh nghiệp và một số trường hợp thay đổi người đại diện theo pháp luật, chủ sở hữu, thành viên của doanh nghiệp. Nghị định cũng sửa đổi Điều 39 về trình tự, thủ tục đăng ký doanh nghiệp qua mạng thông tin điện tử, theo hướng người nộp hồ sơ sử dụng tài khoản định danh điện tử để truy cập hệ thống và thực hiện thủ tục.
Như vậy, yêu cầu xác thực điện tử không phải một điều khoản được ghi trực tiếp trong Luật Doanh nghiệp, nhưng đã có căn cứ pháp lý tại nghị định của Chính phủ và được Bộ Tài chính tổ chức triển khai. Đây là bước tiến cần thiết để hạn chế nguy cơ sử dụng trái phép thông tin cá nhân trong hoạt động đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, việc xác thực danh tính người thực hiện thủ tục chưa thể được đồng nhất trong mọi trường hợp với việc xác nhận ý chí của tất cả cá nhân được ghi tên trong hồ sơ doanh nghiệp.
Pháp luật hiện hành vẫn cho phép ủy quyền thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp. Theo khoản 1 Điều 12 Nghị định số 168/2025/NĐ-CP, văn bản ủy quyền cho cá nhân thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp không bắt buộc phải công chứng, chứng thực. Quy định này góp phần đơn giản hóa thủ tục nhưng cũng đặt ra yêu cầu kiểm soát tính xác thực của việc ủy quyền.
Ngoài ra, quy định sau sửa đổi còn dự liệu trường hợp xác thực điện tử bị gián đoạn, cho phép người ủy quyền thực hiện xác thực sau khi được cấp đăng ký doanh nghiệp. Nếu người ủy quyền không xác nhận hoặc xác nhận không ủy quyền, cơ quan đăng ký kinh doanh yêu cầu doanh nghiệp báo cáo theo quy định. Đó là cơ chế linh hoạt cần thiết về mặt hành chính, song đồng thời cho thấy xác thực điện tử chưa thể loại trừ hoàn toàn nguy cơ phát sinh thông tin đăng ký không phản ánh đúng ý chí của người liên quan.
Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế xác nhận sự đồng ý đối với những tư cách pháp lý quan trọng trong doanh nghiệp, đặc biệt là người đại diện theo pháp luật và chủ sở hữu, trên cơ sở phân biệt rõ từng loại hình doanh nghiệp, từng phương thức đăng ký và từng trường hợp ủy quyền.
Cũng cần nhấn mạnh rằng doanh nghiệp được phản ánh trong vụ việc tại Cần Thơ được thành lập từ tháng 12/2023. Việc đánh giá tính hợp pháp của hồ sơ đăng ký ban đầu phải căn cứ vào quy định có hiệu lực tại thời điểm tiếp nhận hồ sơ, không áp dụng hồi tố các yêu cầu xác thực điện tử được bổ sung trong năm 2026.
3. Thời hạn 6 tháng không phải quy trình bắt buộc đối với mọi trường hợp đăng ký doanh nghiệp giả mạo
Điểm đáng chú ý nhất trong vụ việc tại Cần Thơ là cơ quan đăng ký kinh doanh đã lựa chọn yêu cầu doanh nghiệp báo cáo và xác định thời hạn sáu tháng làm căn cứ xem xét thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Tuy nhiên, cần phân biệt hai căn cứ thu hồi được quy định tại khoản 1 Điều 212 Luật Doanh nghiệp.
Theo điểm a khoản 1 Điều 212, doanh nghiệp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp khi nội dung kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp là giả mạo. Trong khi đó, điểm d khoản 1 Điều 212 quy định trường hợp doanh nghiệp không gửi báo cáo theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 216 trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày hết hạn gửi báo cáo hoặc có yêu cầu bằng văn bản.
Hai căn cứ này không có cùng bản chất pháp lý.
Căn cứ thứ nhất nhằm xử lý việc cấp đăng ký doanh nghiệp dựa trên nội dung kê khai giả mạo.
Căn cứ thứ hai nhằm xử lý doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ báo cáo theo quy định.
Đặc biệt, Điều 68 Nghị định số 168/2025/NĐ-CP đã quy định thủ tục xác định nội dung kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp là giả mạo. Theo quy định này, giấy tờ xác định nội dung kê khai giả mạo bao gồm văn bản trả lời của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc văn bản do cơ quan đó cấp bị giả mạo hoặc văn bản trả lời của cơ quan công an về việc nội dung kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp là giả mạo.
Trường hợp cần xác định nội dung kê khai giả mạo, cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh gửi văn bản kèm hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền theo quy định. Thời hạn trả lời bằng văn bản về kết quả xác định là 30 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị. Điểm a khoản 1 Điều 69 Nghị định số 168/2025/NĐ-CP tiếp tục quy định khi nội dung kê khai trong hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp là giả mạo, cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh ra thông báo vi phạm và quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được giấy tờ quy định tại khoản 2 Điều 68. Như vậy, pháp luật hiện hành đã có một quy trình riêng đối với hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp có nội dung giả mạo.
Thời hạn 03 ngày làm việc nêu trên được tính từ thời điểm cơ quan đăng ký kinh doanh nhận được giấy tờ xác định giả mạo theo quy định, không phải từ thời điểm cá nhân nộp đơn phản ánh. Đơn trình báo của người dân cũng chưa tự động chứng minh hồ sơ đăng ký là giả mạo. Việc xác minh phải dựa trên chứng cứ và được thực hiện theo đúng thẩm quyền. Tuy nhiên, điều đó không đồng nghĩa người bị mạo danh đương nhiên phải chờ đủ sáu tháng.
Vấn đề cần làm rõ trong trường hợp cụ thể là cơ quan đăng ký kinh doanh đã thực hiện những bước nào để xác minh dấu hiệu giả mạo và vì sao quy trình xử lý hồ sơ giả mạo chưa được áp dụng hoặc chưa đủ điều kiện áp dụng. Đây là vấn đề cần được đánh giá trên cơ sở toàn bộ hồ sơ, tài liệu và hoạt động xử lý thực tế của các cơ quan liên quan, không thể chỉ căn cứ thông tin báo chí để kết luận có hành vi vi phạm của cán bộ thực thi công vụ.
Từ góc độ chính sách, trường hợp này cũng cho thấy sự cần thiết phải có một quy trình tiếp nhận và xác minh chuyên biệt đối với phản ánh bị mạo danh, tránh để người dân phải tự tìm cách lựa chọn căn cứ pháp lý và cơ quan có thẩm quyền để bảo vệ mình.
4. Khoảng trống trong bảo vệ người bị mạo danh khi chưa có kết quả xác minh
Việc pháp luật đã quy định thủ tục thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp không có nghĩa toàn bộ quyền lợi của người bị mạo danh đã được bảo vệ đầy đủ. Khoảng trống đáng quan tâm nằm ở giai đoạn từ khi cá nhân gửi phản ánh đến khi cơ quan có thẩm quyền xác định nội dung hồ sơ giả mạo. Trong khoảng thời gian này, thông tin về người bị mạo danh vẫn có thể tồn tại trong dữ liệu đăng ký doanh nghiệp. Tư cách người đại diện theo pháp luật được ghi nhận có thể tiếp tục xuất hiện trong quá trình cơ quan thuế, ngân hàng, đối tác kinh doanh hoặc cơ quan quản lý khác tra cứu thông tin.
Cần khẳng định người bị ghi tên làm giám đốc không mặc nhiên phải chịu mọi khoản nợ, nghĩa vụ thuế hoặc trách nhiệm phát sinh từ hoạt động của doanh nghiệp. Trách nhiệm pháp lý phải được xác định theo bản chất quan hệ, hành vi thực tế, yếu tố lỗi và những điều kiện phát sinh trách nhiệm được pháp luật quy định. Tuy nhiên, dữ liệu sai lệch về tư cách pháp lý có nguy cơ trở thành căn cứ ban đầu khiến cá nhân phải giải trình, bị kiểm tra hoặc gặp khó khăn khi thực hiện những quyền, lợi ích hợp pháp khác.
Vấn đề đặt ra là trong khi chưa thể xác định hồ sơ giả mạo, pháp luật có nên thiết lập cơ chế bảo vệ tạm thời cho người đang bị sử dụng danh tính hay không. Theo tác giả, cần nghiên cứu bổ sung trạng thái thông tin đang được xác minh do có phản ánh mạo danh trong hệ thống đăng ký doanh nghiệp.
Việc ghi nhận trạng thái này phải dựa trên những điều kiện cụ thể, có chứng cứ ban đầu đáng tin cậy và được cơ quan có thẩm quyền kiểm soát. Đây không phải biện pháp tự động xóa bỏ tư cách pháp lý của doanh nghiệp hoặc đình chỉ mọi giao dịch. Trạng thái xác minh chỉ nhằm cảnh báo cho những cơ quan có liên quan biết rằng danh tính của một cá nhân trong hồ sơ đang có tranh chấp về tính xác thực, từ đó phải thẩm tra đầy đủ trước khi áp dụng những biện pháp quản lý gây bất lợi trực tiếp đến cá nhân đó. Đồng thời, cơ chế này phải có biện pháp ngăn ngừa việc lợi dụng phản ánh mạo danh để trốn tránh nghĩa vụ hoặc cản trở hoạt động hợp pháp của doanh nghiệp.
5. Một số kiến nghị hoàn thiện Luật Doanh nghiệp
Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế xác thực danh tính và xác nhận ý chí của những cá nhân được đăng ký với tư cách pháp lý quan trọng trong doanh nghiệp.
Việc ứng dụng VNeID là một giải pháp kỹ thuật có ý nghĩa, nhưng nguyên tắc pháp lý cơ bản cần được xác lập rõ hơn trong Luật Doanh nghiệp. Cá nhân chỉ được ghi nhận giữ một tư cách pháp lý phát sinh quyền và nghĩa vụ khi có căn cứ hợp pháp chứng minh việc xác lập tư cách đó, phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp và phương thức đăng ký.
Tiếp theo, cần làm rõ trách nhiệm của cơ quan đăng ký kinh doanh trong kiểm tra tính xác thực của danh tính trên cơ sở dữ liệu có thể khai thác hợp pháp.
Trách nhiệm này phải được phân biệt với việc điều tra hành vi gian dối hoặc bảo đảm doanh nghiệp sẽ tuân thủ mọi quy định pháp luật sau khi thành lập. Cơ quan đăng ký kinh doanh không nên bị buộc thực hiện những công việc vượt chức năng, nhưng cũng cần có trách nhiệm chủ động xử lý khi phát hiện dữ liệu đăng ký có dấu hiệu không phản ánh đúng danh tính, ý chí của người được ghi nhận.
Thứ ba, cần thiết lập quy trình chuyên biệt về tiếp nhận, xác minh phản ánh bị mạo danh. Việc tiếp nhận đơn phải được ghi nhận trên một hệ thống có khả năng tra cứu tiến độ, xác định rõ trách nhiệm chuyển hồ sơ và thời hạn trả lời.
Thứ tư, nghiên cứu bổ sung cơ chế bảo vệ tạm thời người bị nghi mạo danh trong thời gian xác minh, có điều kiện áp dụng, giới hạn thời gian và cơ chế kiểm soát nhằm bảo đảm không bị lợi dụng.
Thứ năm, cần quy định rõ trách nhiệm cập nhật, điều chỉnh và liên thông kết quả xác minh khi đã xác định hồ sơ giả mạo, đồng thời hoàn thiện cơ chế xử lý hậu quả và xem xét trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu có đầy đủ căn cứ theo pháp luật.
Những kiến nghị này không nhằm khôi phục cơ chế tiền kiểm nặng nề đối với mọi hồ sơ đăng ký doanh nghiệp. Mục tiêu là bổ sung những biện pháp kiểm soát rủi ro có trọng tâm, dựa trên dữ liệu và trách nhiệm giải trình, bảo đảm sự cân bằng giữa quyền tự do kinh doanh với yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân.
Kết luận
Cải cách thủ tục đăng ký doanh nghiệp là một thành tựu quan trọng trong quá trình cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam. Việc rút ngắn thời gian xử lý, đơn giản hóa hồ sơ và mở rộng phương thức đăng ký điện tử góp phần giảm chi phí gia nhập thị trường, thúc đẩy quyền tự do kinh doanh. Tuy nhiên, khi dữ liệu cá nhân ngày càng có thể được khai thác, trao đổi và sử dụng trên môi trường số, hệ thống đăng ký doanh nghiệp cũng đối mặt với những rủi ro mới.
Pháp luật đã quy định hành vi kê khai giả mạo bị nghiêm cấm, thiết lập căn cứ thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và bổ sung giải pháp xác thực điện tử. Vì vậy, không thể kết luận hệ thống pháp luật hoàn toàn thiếu cơ chế xử lý hành vi giả mạo. Điều cần hoàn thiện là sự kết nối giữa cơ chế phòng ngừa, quy trình xác minh, bảo vệ quyền lợi trong thời gian chờ kết quả và khắc phục hậu quả khi thông tin đăng ký được xác định là sai lệch.
Không thể để một người dễ dàng bị ghi tên làm giám đốc doanh nghiệp ngoài ý chí của mình, nhưng khi yêu cầu làm rõ sự việc lại phải tự mình đi chứng minh qua nhiều cơ quan và chờ đợi trong tình trạng pháp lý bất định.Đây là vấn đề cần được nghiên cứu khi tiếp tục sửa đổi Luật Doanh nghiệp, nhằm bảo đảm cải cách thủ tục hành chính thực sự đi đôi với trách nhiệm quản lý nhà nước và bảo vệ quyền của người dân./.
Tài liệu tham khảo:
1. Thông báo về việc triển khai Quy trình xác thực điện tử đối với người nộp hồ sơ, người ủy quyền nộp hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp, Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, ngày 21/7/2026. https://dangkykinhdoanh.gov.vn/vn/Pages/chitiettin.aspx?IDNews=6886&groupID=611.
2. Văn bản hợp nhất số 29/2026/VBHN-NĐ-BTC ngày 28/8/2026 hợp nhất Nghị định về đăng ký doanh nghiệp, Công báo Chính phủ. https://congbao.chinhphu.vn/van-ban/van-ban-hop-nhat-so-29-2026-vbhn-nd-btc-470413.htm.
3. Nghị định số 168/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 về đăng ký doanh nghiệp, Công báo Chính phủ. https://congbao.chinhphu.vn/van-ban/nghi-dinh-so-168-2025-nd-cp-45354/57297.htm.
4. Nghị định số 296/2026/NĐ-CP ngày 23/7/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 168/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp, Cổng thông tin điện tử Chính phủ. https://vanban.chinhphu.vn/?docid=218986&pageid=27160.
5. Cuộc truy lùng doanh nghiệp 'ma' và nỗi khổ mang tên 'giám đốc', Báo Tiền Phong, ngày 24/10/2026. https://tienphong.vn/cuoc-truy-lung-doanh-nghiep-ma-va-noi-kho-mang-ten-giam-doc-post1887329.tpo.
6. Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 ngày 17/6/2020, Cổng thông tin điện tử Chính phủ. https://vanban.chinhphu.vn/?docid=200447&pageid=27160.
7. Luật số 03/2022/QH15 ngày 11/01/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư công, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, Luật Đầu tư, Luật Nhà ở, Luật Đấu thầu, Luật Điện lực, Luật Doanh nghiệp, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Thi hành án dân sự, Cổng thông tin điện tử Chính phủ. https://vanban.chinhphu.vn/?docid=206167&pageid=27160.
8. Luật số 76/2025/QH15 ngày 17/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Doanh nghiệp, Cổng thông tin điện tử Chính phủ. https://vanban.chinhphu.vn/?docid=214562&pageid=27160.
9. Bộ Tài chính thông tin về việc mạo danh cá nhân lập doanh nghiệp, Tạp chí Luật sư Việt Nam, ngày 07/10/2026. https://lsvn.vn/bo-tai-chinh-thong-tin-ve-viec-mao-danh-ca-nhan-lap-doanh-nghiep-a180454.html.
10. Văn bản hợp nhất số 67/VBHN-VPQH ngày 15/8/2025 hợp nhất Luật Doanh nghiệp, Công báo Chính phủ. https://congbao.chinhphu.vn/van-ban/van-ban-hop-nhat-so-67-vbhn-vpqh-45865/58272.htm.
theo Thạc sĩ, Luật sư HOÀNG HÀ
Công ty Luật TNHH MTV Thiên Quý
Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh.
- https://lsvn.vn/mao-danh-giam-doc-va-nhung-bat-cap-can-hoan-thien-trong-dang-ky-doanh-nghiep-a181794.html

