
Cụ thể gồm Luật Tiếp cận thông tin (TCTT) (sửa đổi); Luật Thủ đô (sửa đổi); Luật Hộ tịch (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý (TGPL); Nghị quyết của Quốc hội (QH) về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế; Nghị quyết của QH về thực hiện thí điểm chế định luật sư công.
Trao 199 thẩm quyền đặc thù, vượt trội cho Hà Nội
Luật Thủ đô (sửa đổi) gồm 9 chương, 36 điều. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026; riêng quy định tại khoản 4 Điều 8 và khoản 6 Điều 36 có hiệu lực thi hành kể từ ngày Luật được thông qua. Việc xây dựng, ban hành văn bản thi hành Luật Thủ đô được thực hiện theo quy định của Luật này.
Đáng chú ý, TP Hà Nội được trao 199 thẩm quyền đặc thù, vượt trội. Trong đó có 127 thẩm quyền của HĐND, 56 của UBND và 16 của Chủ tịch UBND. Luật cũng khẳng định vai trò chủ động của chính quyền Thủ đô trong thiết kế, tổ chức thực hiện và thử nghiệm chính sách. Bên cạnh đó, bổ sung quy định nhằm bảo đảm chặt chẽ, gồm: không áp dụng thủ tục rút gọn trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; làm rõ thẩm quyền ban hành văn bản của Chủ tịch UBND; bổ sung yêu cầu xác định cơ chế kiểm tra, giám sát, trách nhiệm giải trình khi ban hành văn bản, trách nhiệm đánh giá hiệu quả văn bản sau ban hành và tổng kết thực tiễn.
Một nội dung khác, Luật mới được hoàn thiện theo hướng quy định rõ nguyên tắc loại trừ, miễn trách nhiệm pháp lý đối với trường hợp thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, không vụ lợi nhưng vẫn phát sinh thiệt hại. Đồng thời, làm rõ đây không phải điều kiện duy nhất mà đặt trong tổng thể cơ chế kiểm soát quyền lực, giám sát, trách nhiệm giải trình...
Sẽ thực hiện đăng ký khai sinh, đăng ký khai tử chủ động
Luật Hộ tịch (sửa đổi) có 4 chương, 30 điều với hiệu lực thi hành từ ngày 1/3/2027, trừ lộ trình thực hiện đăng ký khai sinh, đăng ký khai tử chủ động. Lộ trình này phải thực hiện thống nhất trên toàn quốc chậm nhất từ ngày 1/1/2031.
Một trong những điểm mới trong Luật chính là người dân có thể thực hiện thủ tục đăng ký khai sinh, kết hôn ở bất kỳ xã nào trên cả nước. Cụ thể, Điều 8 về thẩm quyền đăng ký hộ tịch quy định: UBND cấp xã (không phụ thuộc vào nơi cư trú của cá nhân) có thẩm quyền đăng ký các sự kiện, thông tin hộ tịch quy định tại Điều 4 của Luật như khai sinh, kết hôn, tình trạng hôn nhân, khai tử…
Chủ tịch UBND cấp xã có thẩm quyền ký giấy tờ hộ tịch. Căn cứ tình hình thực tế tại địa phương, Chủ tịch UBND cấp xã được ủy quyền ký giấy tờ hộ tịch theo quy định, trừ các loại giấy tờ: Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn, Giấy tờ hộ tịch trong trường hợp đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài.
Về ủy quyền ký giấy tờ hộ tịch, Luật quy định theo hướng linh hoạt: không hạn chế ủy quyền đối với giấy chứng từ nhằm bảo đảm giải quyết kịp thời. Riêng đối với Giấy khai sinh và Giấy chứng nhận kết hôn - là các giấy tờ hộ tịch gốc, quan trọng, việc quy định do lãnh đạo UBND cấp xã ký là cần thiết để bảo đảm tính chặt chẽ, trang trọng.
Về đăng ký khai sinh, khai tử theo phương thức chủ động, Luật quy định lộ trình thực hiện đăng ký khai sinh, khai tử theo phương thức chủ động thống nhất trên toàn quốc chậm nhất là từ ngày 1/1/2031. Trong giai đoạn chuyển tiếp, các địa phương đủ điều kiện được chủ động triển khai trước; đồng thời, Nhà nước tiếp tục đầu tư hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực và đẩy mạnh truyền thông chính sách nhằm bảo đảm tính khả thi và đồng thuận xã hội.
Không quy định danh mục cụ thể các giao dịch phải công chứng
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng không quy định danh mục cụ thể các giao dịch phải công chứng mà xác lập tiêu chí chung để xác định các giao dịch thuộc diện bắt buộc công chứng. Cách tiếp cận này vừa góp phần thu hẹp phạm vi các giao dịch phải công chứng (giảm 6 loại giao dịch phải công chứng đang được quy định trong các nghị định của Chính phủ), vừa khắc phục nguy cơ chồng chéo, xung đột với các luật chuyên ngành, qua đó tạo thuận lợi, giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho tổ chức, cá nhân và nâng cao tính minh bạch, ổn định của hệ thống pháp luật.
Luật cũng quy định rõ trách nhiệm của Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan rà soát, cập nhật và đăng tải danh mục các giao dịch phải công chứng trên Cổng thông tin điện tử. Danh mục này có giá trị tham chiếu, hỗ trợ tra cứu, áp dụng thống nhất trong phạm vi toàn quốc; đồng thời bảo đảm nguyên tắc các giao dịch cụ thể thuộc diện bắt buộc công chứng phải do luật chuyên ngành quy định, phù hợp với tiêu chí của Luật Công chứng.
Về thẩm quyền công chứng giao dịch có đối tượng là bất động sản, Luật tiếp tục quy định thẩm quyền công chứng giao dịch có đối tượng là bất động sản theo phạm vi tỉnh, thành phố nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở. Quy định này phù hợp với đặc thù mô hình công chứng hiện hành, theo đó, công chứng viên chịu trách nhiệm về tính xác thực, hợp pháp của giao dịch, bao gồm cả việc kiểm tra, xác minh tình trạng pháp lý và thực tế của bất động sản khi cần thiết.
Trong điều kiện cơ sở dữ liệu công chứng và các cơ sở dữ liệu liên quan đang trong quá trình hoàn thiện, chưa được kết nối, chia sẻ đồng bộ trên toàn quốc, việc duy trì thẩm quyền công chứng giao dịch có đối tượng là bất động sản theo địa giới hành chính giúp hạn chế rủi ro phát sinh từ việc công chứng trùng lặp đối với cùng một tài sản, bảo đảm an toàn pháp lý cho giao dịch.
Luật cũng mở rộng thẩm quyền công chứng không theo địa hạt đối với các giao dịch không có đối tượng trực tiếp là bất động sản (như hợp đồng ủy quyền, hợp đồng đặt cọc, chuyển nhượng hợp đồng...), qua đó tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp.
Mở rộng phạm vi thông tin phải công khai
Luật TCTT (sửa đổi) quy định trách nhiệm cung cấp thông tin của cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập có nhiệm vụ cung ứng dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu. Đối với doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức khác có sử dụng ngân sách, tài chính, tài sản nhà nước, việc cung cấp thông tin thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành tương ứng. Quy định này nhằm bảo đảm rõ ràng về phạm vi điều chỉnh, tránh chồng chéo, trùng lặp với các luật chuyên ngành, đồng thời phù hợp với đặc thù tổ chức và hoạt động của từng loại chủ thể.
Về phạm vi và trách nhiệm cung cấp thông tin, Luật quy định trách nhiệm cung cấp thông tin do mình tạo ra, không bao gồm thông tin do tiếp nhận từ cơ quan khác (trừ một số trường hợp luật định), nhằm bảo đảm tính hợp lý, khả thi trong bối cảnh sắp xếp, mở rộng chức năng, nhiệm vụ của cấp xã. Luật đồng thời tăng cường phân cấp, phân quyền khi giao UBND cấp tỉnh, cấp xã chủ động xác định đầu mối cung cấp thông tin, tạo sự linh hoạt trong tổ chức thực hiện.
Về thông tin phải được công khai, Luật mở rộng phạm vi thông tin phải công khai, thông qua việc liệt kê và bổ sung các nhóm thông tin quan trọng, gắn trực tiếp với đời sống dân sinh, hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân và doanh nghiệp.
Đối với các thông tin không được liệt kê nhưng pháp luật chuyên ngành có quy định phải công khai, Luật xác định tiếp tục thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm tính đầy đủ, vừa tránh trùng lặp, đồng thời duy trì tính linh hoạt của hệ thống pháp luật.
Mở rộng đối tượng được trợ giúp pháp lý
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TGPL đã bổ sung nhóm “người lao động có thu nhập thấp là người bị buộc tội, bị hại” nhằm bảo đảm tốt hơn quyền được TGPL trong tố tụng hình sự. Bên cạnh đó, việc xác định diện người được TGPL cần dựa trên các chính sách xã hội cơ bản (giảm nghèo, ưu đãi người có công, chính sách dân tộc...), đồng thời phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước.
Luật cũng quy định rõ tiêu chí, điều kiện áp dụng đối với từng nhóm đối tượng, bảo đảm tính minh bạch và khả thi. Đồng thời, bổ sung quy định mở “người được TGPL khác theo quy định của pháp luật” để bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với yêu cầu thực tiễn trong từng giai đoạn.
Liên quan đến lĩnh vực TGPL, Luật không mở rộng TGPL sang lĩnh vực kinh doanh, thương mại nhằm bảo đảm đúng bản chất của TGPL là chính sách an sinh xã hội, tập trung hỗ trợ các đối tượng yếu thế trong các lĩnh vực có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền cơ bản của con người như dân sự, hình sự, hành chính. Đồng thời, việc không mở rộng sang lĩnh vực kinh doanh, thương mại cũng phù hợp với điều kiện nguồn lực của Nhà nước và thực tế hiện nay doanh nghiệp đã được thụ hưởng nhiều chính sách hỗ trợ pháp lý và ưu đãi khác.
Về bổ nhiệm, miễn nhiệm, cấp và thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý, Luật siết chặt hơn tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý nhằm nâng cao chất lượng, phòng ngừa rủi ro liên quan đến phẩm chất đạo đức. Cụ thể, bổ sung các trường hợp không được bổ nhiệm, cấp thẻ đối với người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc, người đã bị kết án mà chưa được xóa án tích về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, rất nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng do cố ý.
Mở quyền - Minh bạch - Giảm gánh nặng: Loạt chính sách pháp luật mới cùng hướng tới phục vụ người dân, doanh nghiệp

(PLVN) - Việc Quốc hội thông qua đồng loạt 5 luật và 2 nghị quyết do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI không chỉ là bước hoàn thiện thể chế, mà còn cho thấy một điểm chung rõ rệt: lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Từ mở rộng quyền tiếp cận thông tin, đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ, đến tăng cường bảo vệ nhóm yếu thế và trao quyền chủ động mạnh mẽ hơn cho chính quyền địa phương, các chính sách mới đều hướng tới một môi trường pháp lý minh bạch, linh hoạt, an toàn hơn.
Cụ thể gồm Luật Tiếp cận thông tin (TCTT) (sửa đổi); Luật Thủ đô (sửa đổi); Luật Hộ tịch (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý (TGPL); Nghị quyết của Quốc hội (QH) về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế; Nghị quyết của QH về thực hiện thí điểm chế định luật sư công.
Trao 199 thẩm quyền đặc thù, vượt trội cho Hà Nội
Luật Thủ đô (sửa đổi) gồm 9 chương, 36 điều. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026; riêng quy định tại khoản 4 Điều 8 và khoản 6 Điều 36 có hiệu lực thi hành kể từ ngày Luật được thông qua. Việc xây dựng, ban hành văn bản thi hành Luật Thủ đô được thực hiện theo quy định của Luật này.
Đáng chú ý, TP Hà Nội được trao 199 thẩm quyền đặc thù, vượt trội. Trong đó có 127 thẩm quyền của HĐND, 56 của UBND và 16 của Chủ tịch UBND. Luật cũng khẳng định vai trò chủ động của chính quyền Thủ đô trong thiết kế, tổ chức thực hiện và thử nghiệm chính sách. Bên cạnh đó, bổ sung quy định nhằm bảo đảm chặt chẽ, gồm: không áp dụng thủ tục rút gọn trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; làm rõ thẩm quyền ban hành văn bản của Chủ tịch UBND; bổ sung yêu cầu xác định cơ chế kiểm tra, giám sát, trách nhiệm giải trình khi ban hành văn bản, trách nhiệm đánh giá hiệu quả văn bản sau ban hành và tổng kết thực tiễn.
Một nội dung khác, Luật mới được hoàn thiện theo hướng quy định rõ nguyên tắc loại trừ, miễn trách nhiệm pháp lý đối với trường hợp thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, không vụ lợi nhưng vẫn phát sinh thiệt hại. Đồng thời, làm rõ đây không phải điều kiện duy nhất mà đặt trong tổng thể cơ chế kiểm soát quyền lực, giám sát, trách nhiệm giải trình...
Sẽ thực hiện đăng ký khai sinh, đăng ký khai tử chủ động
Luật Hộ tịch (sửa đổi) có 4 chương, 30 điều với hiệu lực thi hành từ ngày 1/3/2027, trừ lộ trình thực hiện đăng ký khai sinh, đăng ký khai tử chủ động. Lộ trình này phải thực hiện thống nhất trên toàn quốc chậm nhất từ ngày 1/1/2031.
Một trong những điểm mới trong Luật chính là người dân có thể thực hiện thủ tục đăng ký khai sinh, kết hôn ở bất kỳ xã nào trên cả nước. Cụ thể, Điều 8 về thẩm quyền đăng ký hộ tịch quy định: UBND cấp xã (không phụ thuộc vào nơi cư trú của cá nhân) có thẩm quyền đăng ký các sự kiện, thông tin hộ tịch quy định tại Điều 4 của Luật như khai sinh, kết hôn, tình trạng hôn nhân, khai tử…
Chủ tịch UBND cấp xã có thẩm quyền ký giấy tờ hộ tịch. Căn cứ tình hình thực tế tại địa phương, Chủ tịch UBND cấp xã được ủy quyền ký giấy tờ hộ tịch theo quy định, trừ các loại giấy tờ: Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn, Giấy tờ hộ tịch trong trường hợp đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài.
Về ủy quyền ký giấy tờ hộ tịch, Luật quy định theo hướng linh hoạt: không hạn chế ủy quyền đối với giấy chứng từ nhằm bảo đảm giải quyết kịp thời. Riêng đối với Giấy khai sinh và Giấy chứng nhận kết hôn - là các giấy tờ hộ tịch gốc, quan trọng, việc quy định do lãnh đạo UBND cấp xã ký là cần thiết để bảo đảm tính chặt chẽ, trang trọng.
Về đăng ký khai sinh, khai tử theo phương thức chủ động, Luật quy định lộ trình thực hiện đăng ký khai sinh, khai tử theo phương thức chủ động thống nhất trên toàn quốc chậm nhất là từ ngày 1/1/2031. Trong giai đoạn chuyển tiếp, các địa phương đủ điều kiện được chủ động triển khai trước; đồng thời, Nhà nước tiếp tục đầu tư hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực và đẩy mạnh truyền thông chính sách nhằm bảo đảm tính khả thi và đồng thuận xã hội.
Không quy định danh mục cụ thể các giao dịch phải công chứng
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng không quy định danh mục cụ thể các giao dịch phải công chứng mà xác lập tiêu chí chung để xác định các giao dịch thuộc diện bắt buộc công chứng. Cách tiếp cận này vừa góp phần thu hẹp phạm vi các giao dịch phải công chứng (giảm 6 loại giao dịch phải công chứng đang được quy định trong các nghị định của Chính phủ), vừa khắc phục nguy cơ chồng chéo, xung đột với các luật chuyên ngành, qua đó tạo thuận lợi, giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho tổ chức, cá nhân và nâng cao tính minh bạch, ổn định của hệ thống pháp luật.
Luật cũng quy định rõ trách nhiệm của Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan rà soát, cập nhật và đăng tải danh mục các giao dịch phải công chứng trên Cổng thông tin điện tử. Danh mục này có giá trị tham chiếu, hỗ trợ tra cứu, áp dụng thống nhất trong phạm vi toàn quốc; đồng thời bảo đảm nguyên tắc các giao dịch cụ thể thuộc diện bắt buộc công chứng phải do luật chuyên ngành quy định, phù hợp với tiêu chí của Luật Công chứng.
Về thẩm quyền công chứng giao dịch có đối tượng là bất động sản, Luật tiếp tục quy định thẩm quyền công chứng giao dịch có đối tượng là bất động sản theo phạm vi tỉnh, thành phố nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở. Quy định này phù hợp với đặc thù mô hình công chứng hiện hành, theo đó, công chứng viên chịu trách nhiệm về tính xác thực, hợp pháp của giao dịch, bao gồm cả việc kiểm tra, xác minh tình trạng pháp lý và thực tế của bất động sản khi cần thiết.
Trong điều kiện cơ sở dữ liệu công chứng và các cơ sở dữ liệu liên quan đang trong quá trình hoàn thiện, chưa được kết nối, chia sẻ đồng bộ trên toàn quốc, việc duy trì thẩm quyền công chứng giao dịch có đối tượng là bất động sản theo địa giới hành chính giúp hạn chế rủi ro phát sinh từ việc công chứng trùng lặp đối với cùng một tài sản, bảo đảm an toàn pháp lý cho giao dịch.
Luật cũng mở rộng thẩm quyền công chứng không theo địa hạt đối với các giao dịch không có đối tượng trực tiếp là bất động sản (như hợp đồng ủy quyền, hợp đồng đặt cọc, chuyển nhượng hợp đồng...), qua đó tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp.
Mở rộng phạm vi thông tin phải công khai
Luật TCTT (sửa đổi) quy định trách nhiệm cung cấp thông tin của cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập có nhiệm vụ cung ứng dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu. Đối với doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức khác có sử dụng ngân sách, tài chính, tài sản nhà nước, việc cung cấp thông tin thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành tương ứng. Quy định này nhằm bảo đảm rõ ràng về phạm vi điều chỉnh, tránh chồng chéo, trùng lặp với các luật chuyên ngành, đồng thời phù hợp với đặc thù tổ chức và hoạt động của từng loại chủ thể.
Về phạm vi và trách nhiệm cung cấp thông tin, Luật quy định trách nhiệm cung cấp thông tin do mình tạo ra, không bao gồm thông tin do tiếp nhận từ cơ quan khác (trừ một số trường hợp luật định), nhằm bảo đảm tính hợp lý, khả thi trong bối cảnh sắp xếp, mở rộng chức năng, nhiệm vụ của cấp xã. Luật đồng thời tăng cường phân cấp, phân quyền khi giao UBND cấp tỉnh, cấp xã chủ động xác định đầu mối cung cấp thông tin, tạo sự linh hoạt trong tổ chức thực hiện.
Về thông tin phải được công khai, Luật mở rộng phạm vi thông tin phải công khai, thông qua việc liệt kê và bổ sung các nhóm thông tin quan trọng, gắn trực tiếp với đời sống dân sinh, hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân và doanh nghiệp.
Đối với các thông tin không được liệt kê nhưng pháp luật chuyên ngành có quy định phải công khai, Luật xác định tiếp tục thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm tính đầy đủ, vừa tránh trùng lặp, đồng thời duy trì tính linh hoạt của hệ thống pháp luật.
Mở rộng đối tượng được trợ giúp pháp lý
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TGPL đã bổ sung nhóm “người lao động có thu nhập thấp là người bị buộc tội, bị hại” nhằm bảo đảm tốt hơn quyền được TGPL trong tố tụng hình sự. Bên cạnh đó, việc xác định diện người được TGPL cần dựa trên các chính sách xã hội cơ bản (giảm nghèo, ưu đãi người có công, chính sách dân tộc...), đồng thời phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước.
Luật cũng quy định rõ tiêu chí, điều kiện áp dụng đối với từng nhóm đối tượng, bảo đảm tính minh bạch và khả thi. Đồng thời, bổ sung quy định mở “người được TGPL khác theo quy định của pháp luật” để bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với yêu cầu thực tiễn trong từng giai đoạn.
Liên quan đến lĩnh vực TGPL, Luật không mở rộng TGPL sang lĩnh vực kinh doanh, thương mại nhằm bảo đảm đúng bản chất của TGPL là chính sách an sinh xã hội, tập trung hỗ trợ các đối tượng yếu thế trong các lĩnh vực có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền cơ bản của con người như dân sự, hình sự, hành chính. Đồng thời, việc không mở rộng sang lĩnh vực kinh doanh, thương mại cũng phù hợp với điều kiện nguồn lực của Nhà nước và thực tế hiện nay doanh nghiệp đã được thụ hưởng nhiều chính sách hỗ trợ pháp lý và ưu đãi khác.
Về bổ nhiệm, miễn nhiệm, cấp và thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý, Luật siết chặt hơn tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý nhằm nâng cao chất lượng, phòng ngừa rủi ro liên quan đến phẩm chất đạo đức. Cụ thể, bổ sung các trường hợp không được bổ nhiệm, cấp thẻ đối với người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc, người đã bị kết án mà chưa được xóa án tích về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, rất nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng do cố ý.

