Bàn về biện pháp cưỡng chế “phong tỏa tài khoản” trong tố tụng hình sự

Cập nhật: 16/10/2026 18:41

4428

   

 Phong tỏa tài khoản là một trong số các biện pháp cưỡng chế được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) để bảo đảm cho hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Khi xét thấy có đủ căn cứ, điều kiện, người có thẩm quyền sẽ quyết định áp dụng biện pháp này, nhằm tạm dừng một phần hoặc toàn bộ giao dịch rút tiền, chuyển tiền đối với tài khoản nhằm ngăn chặn việc tẩu tán tài sản, bảo đảm thực hiện các nghĩa vụ tài chính. Tuy nhiên, quá trình áp dụng và thi hành biện pháp này lại gặp rất nhiều khó khăn, lúng túng xuất phát từ việc BLTTHS quy định không cụ thể, không có văn bản quy định hay hướng dẫn chi tiết nào khác. Bài viết này phân tích một số khó khăn, vướng mắc khi thực hiện phong tỏa tài khoản trong tố tụng hình sự, kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện quy định tại Điều 129, 130 của BLTTHS.

1. Quy định của BLTTHS về biện pháp phong tỏa tài khoản

Phong tỏa tài khoản được quy định tại Điều 129 và 130 BLTTHS, trong đó quy định về các nội dung sau:

Trường hợp áp dụng:

Phong tỏa tài khoản chỉ áp dụng đối với người bị buộc tội về tội mà Bộ luật Hình sự (BLHS) quy định hình phạt tiền, bị tịch thu tài sản hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại khi có căn cứ xác định người đó có tài khoản tại tổ chức tín dụng hoặc Kho bạc Nhà nước. Phong tỏa tài khoản cũng được áp dụng đối với tài khoản của người khác nếu có căn cứ cho rằng số tiền trong tài khoản đó liên quan đến hành vi phạm tội của người bị buộc tội.

Như vậy, phong tỏa tài khoản được áp dụng đối với hai nhóm đối tượng là người bị buộc tội và người khác với điều kiện có căn cứ xác định số tiền trong tài khoản của họ liên quan đến hành vi phạm tội. Đối với người bị buộc tội, chỉ được phong tỏa tài khoản của họ nếu họ bị buộc tội về các tội quy định hình phạt tiền, bị tịch thu tài sản hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Thẩm quyền phong tỏa tài khoản:

Những người sau đây có thẩm quyền ban hành Lệnh phong tỏa tài khoản gồm:

- Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; Điều tra viên. Lệnh phong tỏa tài khoản do những người ban hành phải được thông báo ngay cho Viện Kiểm sát cùng cấp trước khi thi hành.

- Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát quân sự các cấp;

- Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp; Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử.

- Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa.

Như vậy, có thể thấy những chủ thể được quyền ban hành Lệnh phong tỏa tài khoản cơ bản đầy đủ và tương ứng với các thẩm quyền khác, thẩm quyền ban hành các văn bản tố tụng, lệnh khác và tương ứng với từng giai đoạn tố tụng được quy định trong BLTTHS.

Phạm vi phong tỏa:

Chỉ phong tỏa số tiền trong tài khoản tương ứng với mức có thể bị phạt tiền, bị tịch thu tài sản hoặc bồi thường thiệt hại. Phong tỏa tài khoản không có nghĩa là phong tỏa toàn bộ số tiền tài khoản đó, cũng không phải tùy ý quyết định một mức tiền bị phong tỏa theo cảm tính mà phải dựa trên sự đánh giá chuyên môn của người ra lệnh phong tỏa. Việc đánh giá tùy thuộc vào từng vụ án cụ thể, nhưng mục đích cuối cùng của việc đánh giá là đưa ra mức tiền bị phong tỏa tương ứng với mức có thể bị phạt tiền, bị tịch thu tài sản hoặc nghĩa vụ mà người bị buộc tội phải bồi thường.

Trình tự, thủ tục phong tỏa:

Khi tiến hành phong tỏa tài khoản, cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền phải giao quyết định phong tỏa tài khoản cho tổ chức tín dụng hoặc Kho bạc Nhà nước đang quản lý tài khoản của người bị buộc tội hoặc tài khoản của người khác có liên quan đến hành vi phạm tội của người bị buộc tội. Việc giao, nhận Lệnh phong tỏa tài khoản phải được lập thành biên bản.

Ngay sau khi nhận được lệnh phong tỏa tài khoản, tổ chức tín dụng hoặc Kho bạc Nhà nước đang quản lý tài khoản của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc tài khoản của người khác có liên quan đến hành vi phạm tội của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo phải thực hiện ngay việc phong tỏa tài khoản và lập biên bản về việc phong tỏa tài khoản.

Biên bản về việc phong tỏa tài khoản được lập thành năm bản, trong đó một bản được giao ngay cho người bị buộc tội, một bản giao cho người khác có liên quan đến người bị buộc tội, một bản gửi cho Viện Kiểm sát cùng cấp, một bản đưa vào hồ sơ vụ án, một bản lưu tại tổ chức tín dụng hoặc Kho bạc Nhà nước.

Hủy bỏ phong tỏa tài khoản:

Phong tỏa tài khoản phải được hủy bỏ khi thuộc một trong các trường hợp: Đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án; Đình chỉ điều tra đối với bị can, đình chỉ vụ án đối với bị can; Bị cáo được tuyên không có tội; Bị cáo không bị phạt tiền, tịch thu tài sản và bồi thường thiệt hại. Ngoài ra, Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án hủy bỏ biện pháp phong tỏa tài khoản khi thấy không còn cần thiết.

2. Một số khó khăn, vướng mắc

2.1. Về thẩm quyền ban hành Lệnh phong tỏa tài khoản

Như đã phân tích ở trên, có nhiều chủ thể có thẩm quyền ban hành Lệnh phong tỏa tài khoản. Nhưng quy định hiện hành tồn tại hai vấn đề sau:

Thứ nhất, Kiểm sát viên không có quyền ra Lệnh phong tỏa tài khoản. Trong khi Điều tra viên trực tiếp kiểm tra, xác minh và lập hồ sơ và Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa được trao quyền thì Kiểm sát viên (trực tiếp thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, xét xử) lại không được ra Lệnh phong tỏa tài khoản. Rà soát quy định của BLTTHS về nhiệm vụ, quyền hạn của những người tiến hành tố tụng có thể thấy nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát tương đương với Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan Điều tra; Chánh án, Phó Chánh án Tòa án là đều trực tiếp tổ chức và chỉ đạo hoạt động tố tụng. Do đó, việc Viện trưởng, Phó Viện trưởng có quyền ban hành Lệnh phong tỏa tài khoản không loại trừ quyền hạn của Kiểm sát viên. Ngoài ra, điểm c khoản 1 Điều 42 BLTTHS có quy định Kiểm sát viên được phân công có nhiệm vụ, quyền hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế. Như vậy, rõ ràng Kiểm sát viên trong mối tương quan với Điều tra viên, Thẩm phán và căn cứ trực tiếp là Điều 42 BLTTHS phải có quyền ra Lệnh phong tỏa tài khoản, Điều 129 quy định thẩm quyền ban hành Lệnh không có Kiểm sát viên là chưa đầy đủ.

Thứ hai, ở giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án thẩm quyền ra Lệnh phong tỏa tài khoản được trao cho Chánh án, Phó Chánh án Tòa án và Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa. Quy định như vậy dẫn đến tình trạng không rõ ràng trường hợp nào Chánh án, Phó Chánh án ra Lệnh phong tỏa tài khoản, trường hợp nào Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa ra Lệnh phong tỏa tài khoản.

Có quan điểm cho rằng, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án Chánh án, Phó Chánh án và Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa đều có quyền ra Lệnh phong tỏa tài khoản nếu thấy cần thiết. Nếu hiểu theo quan điểm này, thì sẽ giải quyết được vấn đề này trong cả giai đoạn điều tra (khi nào thì Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan Điều tra ra Lệnh; khi nào thì Điều tra viên ra Lệnh). Tuy nhiên, nếu như vậy thì rõ ràng không có sự phân chia quyền hạn cụ thể; dẫn đến trường hợp vụ án do Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa chịu trách nhiệm giải quyết nhưng lại bị phụ thuộc vào việc phong tỏa tài khoản do Chánh án, Phó Chánh án ra Lệnh.

Tác giả cho rằng, sau khi thụ lý hồ sơ vụ án, chưa phân công Thẩm phán giải quyết vụ án thì Chánh án, Phó Chánh án có quyền ra Lệnh phong tỏa tài khoản; khi đã phân công thì Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa có quyền ra Lệnh phong tỏa tài khoản. Điều này vừa giải quyết được sự chồng chéo thẩm quyền giữa các chủ thể, vừa phù hợp với nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán và các quy định khác của BLTTHS. Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa cùng với các Hội thẩm thành lập Hội đồng xét xử, quyết định về toàn thể vấn đề của vụ án, nguyên tắc độc lập xét xử được ghi nhận Hội đồng xét xử chỉ tuân theo pháp luật. Nên nếu Chánh án, Phó Chánh án ra Lệnh phong tỏa tài khoản sau đó Hội đồng xét xử giải quyết việc phong tỏa này ít nhiều ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ và sự độc lập của Hội đồng xét xử. Đồng thời, Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa là người được giao nghiên cứu giải quyết vụ án nên nắm chắc hồ sơ vụ án, điều kiện kinh tế, hoàn cảnh gia đình bị can, bị cáo; biết rõ tài sản nào thuộc sở hữu của bị can, bị cáo, biết rõ tài sản nào của bị can, bị cáo phải bị tịch thu và các khoản bị can, bị cáo phải bồi thường, số tiền phải bồi thường từ đó ra Lệnh phong tỏa tài sản chính xác hơn.

2.2. Về mức tiền bị phong tỏa trong tài khoản

Khi ra Lệnh phong tỏa tài khoản, trong Lệnh phải ấn định rõ số tiền bị phong tỏa làm căn cứ để ngân hàng hay kho bạc thực hiện. Số tiền này được quy định bắt buộc “chỉ được phong tỏa số tiền tương ứng với mức có thể bị phạt tiền, bị tịch thu tài sản hoặc bồi thường thiệt hại”. Vì tại thời điểm phong tỏa, chưa biết chính xác mức phạt hoặc mức bồi thường nên BLTTHS quy định một mức “tương ứng” là phù hợp. Nhưng chính quy định này lại gây lúng túng cho người ra Lệnh bởi xác định mức tương ứng như thế nào là rất khó khăn và không có cơ sở rõ ràng. Trong trường hợp tội danh có quy định về hình phạt tiền (là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung) thì thông thường số tiền bị phong tỏa có thể là mức phạt tối đa mà điều luật quy định. Nhưng trường hợp cần bồi thường hoặc tịch thu tài sản thì rất khó để xác định bởi Lệnh phong tỏa tài khoản phải được ban hành kịp thời mới đạt được mục đích cưỡng chế, trong khi đó thời điểm ban hành Lệnh có thể các vấn đề khác chưa được làm rõ, chưa thu thập hết các chứng cứ để giải quyết vấn đề bồi thường.

Bên cạnh đó, thực tế giải quyết vụ án hình sự cho thấy có 02 trường hợp như sau:

Trường hợp thứ nhất, bị can bị khởi tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, hình phạt tiền là hình phạt bổ sung với mức phạt từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Bị can phạm tội nhiều lần, trong đó xác định được số tiền có được từ việc bán ma túy là 6.900.000 đồng. Tại thời điểm khởi tố bị can, bị can sử dụng một tài khoản ngân hàng duy nhất với số dư tài khoản là 4.600.000 đồng. Hồ sơ vụ án thể hiện Cơ quan điều tra ra Lệnh phong tỏa tài khoản trên của bị can nhưng số tiền phong tỏa lại ghi rõ ràng là 1.000.000.000 (một tỷ) đồng. Lý giải cho số tiền phong tỏa này, Cơ quan điều tra cho rằng “do ngân hàng gợi ý” để khi phát sinh tiền chuyển vào tài khoản này, ngân hàng sẽ phong tỏa ngay để phục vụ việc giải quyết vụ án. Rõ ràng việc phong tỏa số tiền này đã không đáp ứng điều kiện chỉ phong tỏa số tiền “tương ứng” theo quy định của BLTTHS nhưng không có căn cứ để giải quyết hậu quả pháp lý.

- Trường hợp thứ hai, số tiền trong tài khoản bị can không đủ số tiền mà bị can chiếm đoạt của bị hại, nên Cơ quan điều tra đã ra Lệnh phong tỏa tài khoản nhưng không ghi cụ thể số tiền[1]. Khi nhận được Lệnh này, Ngân hàng có thể hiểu là phong tỏa toàn bộ số tiền có trong tài khoản của bị can hay không? Nếu Ngân hàng hiểu theo nghĩa trên, tiến hành phong tỏa toàn bộ số tiền thì nếu phát sinh thêm tiền trong tài khoản sau thời điểm phong tỏa thì số tiền này sẽ không bị phong tỏa, dẫn đến thất thoát, bị tẩu tán. Nếu Ngân hàng không hiểu theo nghĩa đó thì phải giải quyết thế nào, thông thường Ngân hàng sẽ gửi văn bản ngược lại chủ thể ban hành Lệnh phong tỏa đề nghị đưa ra số tiền phong tỏa cụ thể. Điều này vừa có thể gây mất thời gian, không kịp thời phong tỏa tài khoản; vừa rủi ro khi chủ thể ban hành Lệnh nhất quyết không đưa ra số tiền phong tỏa cụ thể.

Do đó, để giải quyết các vướng mắc này cần có hướng dẫn cụ thể về việc bắt buộc ấn định số tiền cần phong tỏa trong Lệnh, căn cứ xác định số tiền phong tỏa cũng như xử lý hệ quả pháp lý khi phong tỏa số tiền không phù hợp.

2.3. Về thẩm quyền hủy bỏ Lệnh phong tỏa tài khoản

Khoản 2 Điều 130 BLTTHS quy định “Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án hủy bỏ biện pháp phong tỏa tài khoản khi thấy không còn cần thiết”. Điều này được hiểu bất cứ khi nào, nếu xét thấy không còn cần thiết thì có thể hủy bỏ việc phong tỏa tài khoản. Vấn đề đặt ra là ngoại trừ Hội đồng xét xử, các chủ thể khác có quyền tự do hủy bỏ Lệnh phong tỏa tài khoản không phải do mình ban hành hay không? Ví dụ Viện trưởng có quyền hủy bỏ Lệnh phong tỏa của Thủ trưởng Cơ quan Điều tra không? Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa trong giai đoạn chuẩn bị xét xử có quyền hủy bỏ Lệnh phong tỏa của Viện trưởng hay Thủ trưởng Cơ quan Điều tra không? Đây là vấn đề cần được xem xét thận trọng. Hiểu theo đúng quy định hiện hành, bất kỳ chủ thể nào cũng có quyền hủy bỏ phong tỏa tài khoản khi vụ án đang ở giai đoạn tương ứng và xét thấy không còn cần thiết mà không phụ thuộc vào chủ thể ban hành Lệnh. Tuy nhiên, điều này có thể sẽ gây ra sự tùy tiện hoặc sai phạm trong quá trình tố tụng do sự đánh giá cần thiết hay không là ý chí chủ quan của từng cá nhân.

Chưa hết, việc hủy bỏ phong tỏa trong giai đoạn điều tra, truy tố thì phải thông báo cho Viện Kiểm sát trước khi quyết định. Điều này có nghĩa, khi Cơ quan Điều tra hủy bỏ phong tỏa tài khoản phải thông báo trước cho Viện Kiểm sát (chỉ thông báo mà không cần Viện Kiểm sát phê chuẩn) kể cả khi vụ án đang ở giai đoạn điều tra hay giai đoạn truy tố. Bởi lẽ nếu ở giai đoạn truy tố chỉ có Viện Kiểm sát được hủy bỏ phong tỏa tài khoản thì Viện Kiểm sát không thể thông báo cho chính Viện Kiểm sát trước khi quyết định. Nên có thể hiểu gián tiếp rằng, Cơ quan Điều tra có thể hủy bỏ phong tỏa tài khoản tại giai đoạn truy tố. Tác giả cho rằng quy định như vậy là không phù hợp. Ở giai đoạn truy tố, Cơ quan Điều tra đã hoàn thành việc tiến hành tố tụng và bàn giao hồ sơ cho Viện Kiểm sát, Viện Kiểm sát có toàn quyền quyết định đối với vụ án. Nếu xét thấy không cần thiết tiếp tục phong tỏa tài khoản, Cơ quan Điều tra cần ban hành văn bản đề nghị Viện Kiểm sát hủy bỏ. Nếu tự ra Lệnh hủy bỏ phong tỏa tài khoản, Lệnh này phải gửi cho Viện Kiểm sát trong khi Viện Kiểm sát xét thấy vẫn cần phong tỏa tài khoản sẽ nảy sinh mâu thuẫn và phát sinh thêm thủ tục tố tụng.

Do đó, cần bổ sung quy định hoặc ban hành hướng dẫn liên ngành về thẩm quyền hủy bỏ phong tỏa tài khoản tương ứng với từng giai đoạn tố tụng và chủ thể đã ban hành Lệnh phong tỏa tài khoản.

2.4. Về thi hành quyết định hủy bỏ Lệnh phong tỏa của Tòa án tuyên trong bản án

Trong vụ án có áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản, khi Tòa án ban hành Bản án trong đó giải quyết toàn bộ các vấn đề liên quan như hình phạt, tịch thu tài sản hay trách nhiệm bồi thường, Tòa án sẽ tuyên về việc hủy bỏ Lệnh phong tỏa tài khoản. Vấn đề đặt ra là việc thi hành nội dung tuyên này như thế nào?

Về phía Cơ quan Thi hành án, đây là cơ quan có trách nhiệm thi hành Bản án có hiệu lực của Tòa án. Tuy nhiên, đối với nội dung “hủy bỏ phong tỏa tài khoản” mà Tòa án tuyên trong Bản án lại không được pháp luật Thi hành án hay các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan quy định cụ thể thẩm quyền thi hành[2]. Do đó, Cơ quan này không có căn cứ thi hành, có trường hợp từ chối thi hành, có trường hợp đề nghị có yêu cầu của người được thi hành hoặc chủ thể tiến hành tố tụng, có trường hợp đề nghị Tòa án ban hành Lệnh hủy bỏ phong tỏa tài khoản riêng mặc dù Tòa án đã quyết định trong Bản án.

Về phía Tòa án, nội dung đã tuyên trong Bản án là quyết định có giá trị pháp lý cuối cùng và cao nhất để giải quyết vấn đề phong tỏa tài khoản. Bởi Bản án được Tòa án nhân danh Nhà nước quyết định trên cơ sở quy định pháp luật và Tòa án cũng không thể ra văn bản nào khác để yêu cầu các cá nhân, tổ chức liên quan tổ chức thực hiện nội dung đó.

Về phía tổ chức tín dụng, Kho bạc Nhà nước, chính bản thân các tổ chức này cũng không có căn cứ để tự mình hủy bỏ phong tỏa tài khoản. Khi thực hiện phong tỏa, họ căn cứ trên Lệnh phong tỏa và có lập biên bản. Nên khi hủy bỏ phong tỏa, họ cũng đòi hỏi thủ tục, văn bản phải thật sự chặt chẽ, mà cụ thể là quyết định của chủ thể có thẩm quyền. Các tổ chức này không được nhận Bản án của Tòa án, nên không thể biết chính xác nội dung Bản án tuyên, cũng không thể tùy tiện căn cứ Bản án để thực hiện hủy bỏ phong tỏa tài khoản vì họ không có chức năng thi hành Bản án của Tòa án[3].

Như vậy, chủ thể nào thi hành, thi hành như thế nào đối với quyết định hủy bỏ phong tỏa tài khoản trong Bản án của Tòa án còn nhiều bất cập.

3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Từ những khó khăn, vướng mắc nêu trên, tác giả kiến nghị hoàn thiện pháp luật như sau:

Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 129, 130 BLTTHS như sau:

- Bổ sung quy định Kiểm sát viên có quyền ra Lệnh phong tỏa tài khoản vào khoản 2 Điều 129 BLTTHS: “2. Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này, Kiểm sát viên, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền ra lệnh phong tỏa tài khoản”.

- Bổ sung quy định bắt buộc phải ghi rõ số tiền bị phong tỏa trong Lệnh phong tỏa tài khoản vào khoản 3 Điều 129 BLTTHS: “3. Chỉ phong tỏa số tiền trong tài khoản tương ứng với mức có thể bị phạt tiền, bị tịch thu tài sản hoặc bồi thường thiệt hại. Số tiền phong tỏa phải được ghi rõ trong Lệnh phong tỏa tài khoản”.

- Sửa đổi, bổ sung quy định về thẩm quyền hủy bỏ phong tỏa tài khoản theo hướng thẩm quyền hủy bỏ phải tương ứng với chủ thể đã ban hành Lệnh phong tỏa tài khoản và tương ứng với từng giai đoạn tố tụng (ngoại trừ Hội đồng xét xử) vào Điều 130 BLTTHS: “Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án hủy bỏ biện pháp phong tỏa tài khoản do mình ban hành khi thấy không còn cần thiết. Trường hợp xét thấy không còn cần thiết nhưng vụ án đang ở giai đoạn tố tụng khác thì đề nghị Cơ quan đang thụ lý hủy bỏ phong tỏa tài khoản. Hội đồng xét xử có quyền hủy bỏ phong tỏa tài khoản do tất cả các chủ thể đã ban hành. Đối với biện pháp phong tỏa tài khoản trong giai đoạn điều tra thì việc hủy bỏ hoặc thay thế phải thông báo cho Viện Kiểm sát trước khi quyết định”.

- Bổ sung quy định gửi quyết định hủy bỏ phong tỏa tài khoản cho tổ chức tín dụng hoặc Kho bạc Nhà nước vào Điều 130 BLTTHS: “2. Quyết định hủy bỏ phong tỏa tài khoản phải được gửi ngay cho tổ chức tín dụng hoặc Kho bạc Nhà nước để thực hiện”.

Thứ hai, bổ sung quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục thi hành quyết định hủy bỏ phong tỏa tài khoản của Cơ quan Thi hành án vào Luật Thi hành án dân sự theo hướng: “Khi nhận được Bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án, Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền chủ động ra quyết định thi hành nội dung quyết định của Tòa án về hủy bỏ áp dụng phong tỏa tài khoản và phân công Chấp hành viên chịu trách nhiệm tổ chức thi hành. Chấp hành viên được phân công có trách nhiệm ban hành quyết định hủy bỏ phong tỏa tài khoản, gửi quyết định đó cho tổ chức tín dụng hoặc Kho bạc Nhà nước để thực hiện”.

Thứ ba, liên ngành trung ương cần ban hành hướng dẫn về việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp phong tỏa tài khoản, trong đó hướng dẫn các nội dung sau:

- Hướng dẫn phân định thẩm quyền ra Lệnh phong tỏa tài khoản đối với từng chủ thể, nhóm chủ thể; trong đó tập trung phân định thẩm quyền của Chánh án, Phó Chánh án Tòa án và Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa theo hướng sau khi thụ lý hồ sơ vụ án, chưa phân công Thẩm phán giải quyết vụ án thì Chánh án, Phó Chánh án có quyền ra Lệnh phong tỏa tài khoản; khi đã phân công thì Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa có quyền ra Lệnh phong tỏa tài khoản; khi thành lập Hội đồng xét xử thì Hội đồng xét xử có quyền ra Lệnh phong tỏa tài khoản.

- Hướng dẫn căn cứ, phương pháp, cách thức xác định số tiền bị phong tỏa “tương ứng” với mức có thể bị phạt tiền, bị tịch thu tài sản hoặc bồi thường thiệt hại theo hướng dựa trên mức hình phạt, thiệt hại, số thu lợi bất chính…

- Hướng dẫn xử lý hậu quả pháp lý khi Lệnh phong tỏa tài khoản không xác định chính xác số tiền phong tỏa hoặc có xác định nhưng không “tương ứng” theo quy định theo hướng Lệnh phong tỏa tài khoản không xác định cụ thể số tiền phong tỏa thì tổ chức tín dụng hoặc Kho bạc Nhà nước không thi hành và gửi trả lại Cơ quan đã ra Lệnh; Lệnh phong tỏa tài khoản số tiền không “tương ứng” có thể bị hủy bỏ một phần hoặc thu hồi trên cơ sở kiến nghị của người bị phong tỏa hoặc chủ thể tiến hành tố tụng khác.

[1] Phạm Minh Tuyên, Các biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự - những vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện pháp luật, Tạp chí Kiểm sát số 03/2025. 

[2] Trần Thị Thu Thủy, Vướng mắc trong hủy bỏ lệnh phong tỏa tài khoản, Tạp chí kiểm sát số 08/2024.

[3] Trần Thị Thu Thủy, Vướng mắc trong hủy bỏ lệnh phong tỏa tài khoản, Tạp chí kiểm sát số 08/2024.

theo VĂN LINH

Tòa án quân sự khu vực Quân chủng Hải quân. - Tạp chí luật sư VN

https://lsvn.vn/ban-ve-bien-phap-cuong-che-phong-toa-tai-khoan-trong-to-tung-hinh-su-a180371.html

Tin liên quan

Ba nghị quyết về xây dựng Đảng: Lấy kết quả thực tiễn làm thước đo - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Tập trung chỉ đạo quyết liệt, phấn đấu đạt mức cao nhất các chỉ tiêu - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Bộ Công an hướng dẫn cách xác nhận khi sổ đỏ ghi số chứng minh nhân dân cũ - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Bảo vệ quyền tác giả của nhà báo trên không gian mạng: Thực tiễn xét xử và giải pháp hoàn thiện - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Xây dựng Văn hóa Đảng: Gốc rễ để Đảng thật sự là đạo đức, văn minh - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Chuyển đổi số trong hoạt động cơ quan nhà nước và cung cấp dịch vụ công: Chuẩn hóa khung năng lực số cho lãnh đạo, quản lý - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Hoàn thiện pháp luật về an ninh theo hướng quản lý dựa trên rủi ro, rõ trách nhiệm - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Tuyên truyền sâu rộng các chỉ thị, nghị quyết mới của Đảng - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Xây dựng đội ngũ có bản lĩnh chính trị, tư duy chiến lược, năng lực dự báo, tổng kết thực tiễn - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Thủ tướng: Nâng cao đồng bộ 7 yếu tố năng lực điều hành của Chính phủ - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Chọn đúng người, giao đúng việc - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Đồng thuận có đủ để tạo ra quyết sách tốt? - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Tòa Hành chính TAND TP. Hà Nội hoàn thành “90 ngày giải quyết đơn, án” trước hạn - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Quốc hội thông qua Luật sửa đổi 3 luật về ngân hàng, phòng chống rửa tiền - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI Nghị trường trách nhiệm, quyết sách kiến tạo - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Nâng trách nhiệm nhà xuất bản với nội dung về lịch sử, chủ quyền - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Quốc hội bổ sung 3 nội dung, làm việc thêm ngoài giờ tại Kỳ họp không thường lệ - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Quốc hội xem xét mô hình tổ chức mới của hệ thống cơ quan điều tra - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Quốc hội tiếp tục họp đợt 2 Kỳ họp không thường lệ, thảo luận nhiều dự án luật quan trọng - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Phó Thủ tướng: Rõ người, rõ việc, rõ thời hạn xử lý vướng mắc pháp luật - Cập nhật: 26/02/2025 09:38