Thông tư này hướng dẫn giao nhận, bảo quản, xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ; thủ tục quản lý hành chính, biểu mẫu và quy trình xử lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trong thi hành án dân sự, bao gồm:
- Một số thủ tục về quản lý hành chính trong thi hành án dân sự, gồm: đăng tải, cập nhật, bổ sung, sửa đổi, quản lý thông tin của người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án trên Cổng, trang thông tin điện tử của cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự; phân công tổ chức thi hành án và ủy quyền thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự; thu, chi tiền thi hành án; chế độ kiểm tra và báo cáo trong thi hành án dân sự;
- Lập, sử dụng, bảo quản và lưu trữ sổ, hồ sơ thi hành án, hồ sơ giải quyết khiếu nại, tố cáo; các loại biểu mẫu, việc quản lý, sử dụng biểu mẫu trong thi hành án dân sự;
- Trình tự, thủ tục tiếp nhận, bảo quản, xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ, vật, giấy tờ, tài sản kê biên trong quá trình tổ chức thi hành án dân sự (sau đây gọi chung là vật chứng, tài sản tạm giữ) và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan;
- Tiếp nhận, phân loại, xử lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trong thi hành án dân sự, trừ các khiếu nại, tố cáo có liên quan đến hoạt động thi hành án dân sự do cơ quan, người có thẩm quyền khác thực hiện đã được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành tương ứng.
Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
Thông tư áp dụng đối với cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thi hành án dân sự, người làm công tác thi hành án dân sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
Thông tư quy định cụ thể việc phân công tổ chức thi hành án giữa Phòng Thi hành án dân sự khu vực và Phòng Nghiệp vụ và tổ chức thi hành án dân sự; đồng thời hướng dẫn việc ủy quyền thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, bảo đảm rõ trách nhiệm của người được ủy quyền và người ủy quyền trong quá trình tổ chức thi hành án.
Thông tư cũng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý thi hành án dân sự thông qua việc xây dựng, cập nhật và khai thác dữ liệu quản lý vật chứng, tài sản tạm giữ cũng như dữ liệu xử lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trên Cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự. Các dữ liệu này được kết nối, chia sẻ với các cơ sở dữ liệu có liên quan nhằm phục vụ công tác quản lý, theo dõi, bảo quản, xử lý vật chứng và giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật.
Về công khai thông tin người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án, Thông tư quy định việc đăng tải phải bảo đảm chính xác, minh bạch, đúng thẩm quyền, đúng thời hạn và được thực hiện thông qua kết nối dữ liệu từ Cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự để tự động cập nhật trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan quản lý thi hành án dân sự và Trang thông tin điện tử của cơ quan thi hành án dân sự. Trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ khi phát sinh hoặc thay đổi dữ liệu, hệ thống sẽ tự động cập nhật, hiển thị hoặc ngừng hiển thị thông tin theo quy định.
Đối với hoạt động thu, chi tiền thi hành án, Thông tư quy định thống nhất việc sử dụng biên lai điện tử trong thi hành án dân sự, hướng dẫn các loại biên lai, quy trình phát hành, quản lý, sử dụng và báo cáo tình hình sử dụng biên lai; đồng thời quy định cụ thể việc mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng thương mại, trình tự thanh toán tiền thi hành án, nộp ngân sách nhà nước và quản lý các khoản tiền thi hành án.
Bên cạnh đó, Thông tư cũng quy định chi tiết về trình tự, thủ tục giao nhận, bảo quản và xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ trong thi hành án dân sự. Theo đó, việc tiếp nhận, kiểm kê, mở niêm phong, tiêu hủy, trả lại hoặc xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ phải được thực hiện theo đúng trình tự, có biên bản, bảo đảm sự tham gia của các chủ thể có liên quan. Hệ thống kho bảo quản tài sản thi hành án cũng phải đáp ứng các yêu cầu về an toàn, bảo quản và quản lý theo quy định hiện hành.
Thông tư số 06/2026/TT-BTP góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về công tác quản lý hành chính trong thi hành án dân sự, chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ, tăng cường ứng dụng công nghệ số, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý, bảo quản, xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động thi hành án dân sự.
Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026. Thông tư số 01/2017/TT-BTP ngày 23/01/2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về quản lý kho vật chứng, tài sản tạm giữ trong thi hành án dân sự, Thông tư số 13/2021/TT-BTP ngày 30/12/2021 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định quy trình xử lý, giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trong thi hành án dân sự, Thông tư số 04/2023/TT-BTP ngày 14/8/2023 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện một số thủ tục về quản lý hành chính và biểu mẫu trong thi hành án dân sự hết hiệu lực kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành.
Đối với việc thi hành án đã thi hành một phần hoặc chưa thi hành xong trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành nhưng đã thực hiện các thủ tục về thi hành án theo đúng quy định thì kết quả thi hành án được công nhận; các thủ tục thi hành án tiếp theo được thực hiện theo quy định tại Thông tư này.
Kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành, cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thi hành án dân sự sử dụng các biểu mẫu ban hành kèm theo Thông tư này.
Đối với các loại sổ thi hành án được lập theo năm báo cáo thống kê thi hành án dân sự thì cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục sử dụng cho đến hết năm báo cáo thống kê thi hành án dân sự.
Kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành, cơ quan thi hành án dân sự thực hiện hủy số biên lai giấy còn tồn theo quy định; biên lai giấy đã in theo Mẫu số C20-THADS Phụ lục V ban hành kèm theo Thông tư số 04/2023/TT-BTP được tiếp tục sử dụng cho đến hết.
Đối với vật chứng, tài sản tạm giữ theo bản án, quyết định của Tòa án đã được cơ quan thi hành án dân sự tiếp nhận trước ngày 01 tháng 7 năm 2026 thì cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục bảo quản tại kho bảo quản tài sản thi hành án; thực hiện thủ tục xuất, nhập kho theo quy định tại Điều 29, Điều 33; xử lý theo quy định tại Điều 26, Điều 27, Điều 28, Mục 4 Chương III và thực hiện kiểm kê theo quy định tại Điều 31 của Thông tư này. Trường hợp đang bảo quản tại các Kho vật chứng không thuộc khuôn viên trụ sở cơ quan thi hành án dân sự thì thực hiện đến khi chuyển giao kho cùng vật chứng đang bảo quản tại kho về cơ quan Công an có thẩm quyền theo quy định tại khoản 6 Điều 116 của Luật Thi hành án dân sự.
Hồ sơ, sổ theo dõi quản lý vật chứng, tài sản tạm giữ đã được thực hiện trước ngày 01 tháng 7 năm 2026 thì cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục cập nhật kết quả xử lý cho đến khi hoàn thành việc tích hợp theo dõi trên cơ sở dữ liệu điện tử và chuyển đổi hình thức theo dõi.
Việc phân công tổ chức thi hành án và ủy quyền thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành được công nhận, đơn vị đã được phân công tiếp tục tổ chức thi hành án theo quy định của pháp luật.
Đối với các trường hợp khiếu nại, tố cáo chưa được thụ lý hoặc đã được thụ lý giải quyết trước ngày 01 tháng 7 năm 2026 mà chưa giải quyết xong thì được giải quyết theo quy định tại Thông tư này.

