Đại hội đã đánh giá toàn diện kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam; tổng kết 15 năm thi hành Điều lệ Đảng (2011-2025) và xác định những định hướng lớn cho giai đoạn phát triển tiếp theo của đất nước. Trong đó, nội dung xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp tục được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị, gắn liền với yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh cải cách tư pháp trong thời kỳ mới.
Nguồn: TTXVN.
Những thành tựu và yêu cầu mới của công cuộc cải cách tư pháp
Trong suốt 40 năm đổi mới đất nước (19861986-2026), Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, chú trọng công tác cải cách tư pháp. Năm 2002, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới. Năm 2005, Bộ Chính trị tiếp tục ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, đặt nền móng cho quá trình đổi mới toàn diện hoạt động tư pháp ở nước ta.
Thực tiễn triển khai cho thấy, nhiều mục tiêu của Chiến lược cải cách tư pháp đã đạt được những kết quả quan trọng. Tổ chức bộ máy của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan điều tra và các thiết chế bổ trợ tư pháp từng bước được kiện toàn theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn. Chất lượng điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án có nhiều chuyển biến tích cực; quyền con người, quyền công dân ngày càng được tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm tốt hơn.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, Văn kiện Đại hội XIV cũng thẳng thắn chỉ ra rằng công cuộc cải cách tư pháp vẫn còn những hạn chế nhất định, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động tư pháp, nhất là trong bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập quốc tế sâu rộng, yêu cầu kiểm soát quyền lực nhà nước và bảo vệ ngày càng tốt hơn quyền con người, quyền công dân.
Trên tinh thần đó, Văn kiện Đại hội XIV xác định tiếp tục đẩy mạnh chiến lược cải cách tư pháp toàn diện, xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh và liêm chính; bảo đảm quyền tiếp cận công lý, quyền được xét xử công bằng; xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm pháp luật; không để xảy ra oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm; qua đó củng cố niềm tin của Nhân dân đối với các cơ quan tư pháp.
Từ việc nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết Đại hội XIV, có thể nhận thấy một số quan điểm chỉ đạo quan trọng về cải cách tư pháp trong thời gian tới như sau:
Quan điểm thứ nhất: Tiếp tục xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân
Đây là quan điểm mang tính xuyên suốt, thể hiện rõ mục tiêu phát triển của nền tư pháp Việt Nam trong giai đoạn mới. Nền tư pháp không chỉ bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật mà còn phải thực sự trở thành công cụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và phục vụ lợi ích của Nhân dân.
Quan điểm này đồng thời thể hiện sự kế thừa và phát triển các định hướng đã được xác lập trong Kết luận số 84-KL/TW ngày 29/7/2020 của Bộ Chính trị về tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW; đồng thời gắn với yêu cầu triển khai Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2030, định hướng đến năm 2045 theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Việc xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại đòi hỏi sự đổi mới đồng bộ cả về tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ tư pháp, phương thức hoạt động và cơ chế bảo đảm thực thi pháp luật. Đây là điều kiện quan trọng để nền tư pháp Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới.
Quan điểm thứ hai: Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, công bằng, dân chủ, minh bạch, khả thi và ổn định
Cải cách tư pháp không thể tách rời quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Một nền tư pháp hiện đại chỉ có thể vận hành hiệu quả trên cơ sở một hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, minh bạch và khả thi.
Quan điểm này thể hiện sự kế thừa nhất quán đường lối của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đặc biệt là các yêu cầu được đặt ra trong Nghị quyết số 27-NQ/TW năm 2022 và Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Một trong những yêu cầu quan trọng được đặt ra là tăng cường hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật, bảo đảm pháp luật được thực hiện nghiêm minh, thống nhất và kịp thời trong thực tiễn. Pháp luật không chỉ dừng lại ở việc được ban hành mà phải thực sự đi vào cuộc sống, trở thành công cụ quản lý xã hội hiệu quả và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và cá nhân.
Quan điểm thứ ba: Bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền tiếp cận công lý và quyền được xét xử công bằng
Đây là một trong những nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng của Chiến lược cải cách tư pháp trong giai đoạn tới.
Bảo đảm quyền con người, quyền công dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Các cơ quan tư pháp phải thực sự trở thành chỗ dựa của Nhân dân trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người và quyền công dân.
Văn kiện Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm quyền tiếp cận công lý, quyền được xét xử công bằng, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không để xảy ra oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm. Đây là sự kế thừa và phát triển những quan điểm đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 về việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân.
Đồng thời, Văn kiện cũng nhấn mạnh yêu cầu gắn cải cách tư pháp với việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực tư pháp, tăng cường trách nhiệm giải trình, nâng cao đạo đức công vụ và bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ tư pháp. Điều đó nhằm bảo đảm các quyền hiến định không chỉ được ghi nhận trên phương diện pháp lý mà còn được bảo vệ một cách thực chất, đầy đủ và hiệu quả trong đời sống xã hội.
Quan điểm thứ tư: Xây dựng các thiết chế tư pháp hiện đại, trong sạch, hiệu lực, hiệu quả và đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động tư pháp
Văn kiện Đại hội XIV xác định rõ yêu cầu tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp và ứng dụng mạnh mẽ thành tựu khoa học công nghệ.
Các cơ quan tư pháp cần được xây dựng theo hướng trong sạch, dân chủ, nghiêm minh, liêm chính; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, khả thi và ổn định trong tổ chức và hoạt động. Đồng thời, cần đẩy mạnh hoạt động tranh tụng tại phiên tòa, bảo đảm tính độc lập của Tòa án theo thẩm quyền xét xử.
Đáng chú ý, Văn kiện đặt ra định hướng xây dựng Tòa án số, Viện kiểm sát số, Cơ quan điều tra số và các thiết chế tư pháp hiện đại. Đây là yêu cầu phù hợp với xu thế chuyển đổi số quốc gia, góp phần nâng cao chất lượng quản lý, điều hành và hiệu quả hoạt động tư pháp trong bối cảnh mới.
Bên cạnh đó, cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan được giao thực hiện hoạt động tư pháp và bổ trợ tư pháp; phân định rõ giữa thẩm quyền quản lý hành chính và trách nhiệm tư pháp; tăng cường tính độc lập, trách nhiệm và tính chuyên nghiệp của các chức danh tư pháp.
Song song với đó là yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng và trình độ chuyên môn cao, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong thời kỳ mới.
Quan điểm thứ năm: Cải cách tư pháp phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước
Văn kiện Đại hội XIV tiếp tục khẳng định cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp và toàn diện của Đảng.
Đảng lãnh đạo công tác tư pháp thông qua các chủ trương, đường lối, nghị quyết chiến lược; đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nhằm bảo đảm hoạt động tư pháp thực hiện đúng định hướng chính trị, pháp lý và yêu cầu phát triển đất nước.
Một nội dung đáng chú ý là yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước nói chung và quyền tư pháp nói riêng. Trong những năm gần đây, Đảng đã ban hành nhiều quy định quan trọng nhằm kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, xây dựng pháp luật và quản lý tài sản công.
Tư duy kiểm soát quyền lực ngày càng được hoàn thiện theo hướng xác định rõ các lĩnh vực trọng yếu, những nơi dễ phát sinh lạm quyền, tham nhũng hoặc lợi ích nhóm. Điều này thể hiện quyết tâm xây dựng cơ chế vận hành quyền lực công khai, minh bạch, hiệu quả, bảo đảm mọi quyền lực đều được kiểm soát bằng cơ chế và pháp luật.
Kết luận
Trên cơ sở kế thừa những thành tựu của hơn hai thập niên triển khai Chiến lược cải cách tư pháp, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã xác định rõ những mục tiêu, quan điểm và định hướng lớn cho quá trình xây dựng nền tư pháp Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn năm 2045.
Những quan điểm được xác lập trong Văn kiện không chỉ thể hiện sự kế thừa các thành tựu lý luận và thực tiễn của công cuộc đổi mới, mà còn phản ánh yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới; hướng tới xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân; bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp và góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực sự của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân.
Việc triển khai hiệu quả Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2030, tầm nhìn năm 2045 sẽ tiếp tục tạo nền tảng quan trọng để xây dựng một nền tư pháp hiện đại, bảo đảm công lý, thượng tôn pháp luật, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với các cơ quan tư pháp, đồng thời góp phần phục vụ sự nghiệp phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới.
Tài liệu tham khảo
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, Tập II, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
2. NXB Chính trị quốc gia Sự thật (2016), Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Hà Nội.
3. Nguyễn Ngọc Anh, Phan Trung Hoài (đồng chủ biên) (2018), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
4. Quốc hội (2025), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
5. Quốc hội (2025), Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
6. Quốc hội (2025), Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
7. Quốc hội (2025), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2021 và 2025).
8. Bộ Chính trị (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới.
9. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
10. Bộ Chính trị (2022, 2025), Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
NGUYỄN VĂN VIỆT
Viện KSND Khu vực 7, tỉnh Bắc Ninh.

