Đổi mới mô hình tổ chức Đảng trong Khối Dân vận và Mặt trận Tổ quốc: Tiếp cận từ Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV

Cập nhật: 20/10/2026 18:11

4436

   

Nghiên cứu này phân tích chủ trương kiện toàn, hợp nhất các tổ chức đảng để thành lập “Đảng ủy Dân vận, Mặt trận và các đoàn thể Trung ương” theo tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV (tháng 10/2026). Dựa trên phương pháp duy vật biện chứng và phân tích tài liệu, bài viết làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và những đột phá về tư duy khoa học tổ chức trong quyết sách này. Kết quả nghiên cứu khẳng định mô hình mới không chỉ giải quyết triệt để bài toán phân tán nguồn lực, chống “hành chính hóa” mà còn tạo xung lực mới để phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Bài viết cũng đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm đưa mô hình này vận hành hiệu lực, hiệu quả trong thực tiễn.

1. Đặt vấn đề

Bước vào thập niên thứ ba của thế kỷ XXI, đặc biệt là giai đoạn bản lề sau thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (năm 2026), Việt Nam chính thức bước vào “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” với những định hướng chiến lược mang tính thời đại. Trong bối cảnh kiến tạo phát triển mới, yêu cầu đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với toàn bộ hệ thống chính trị đã không còn là một lựa chọn tự thân mà đã trở thành một đòi hỏi mang tính quy luật khách quan, quyết định sự tồn vong và phát triển bền vững của chế độ. Hệ thống chính trị Việt Nam, được vận hành theo nguyên lý “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”, luôn đòi hỏi sự đồng bộ và liên thông tuyệt đối giữa các thiết chế. Trong cấu trúc quyền lực và quản trị quốc gia đó, công tác vận động quần chúng (dân vận) và việc phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc thông qua MTTQ Việt Nam cùng các tổ chức chính trị - xã hội đóng vai trò là nguồn lực nội sinh quan trọng nhất, là “sợi dây chuyền” kết nối ý Đảng với lòng dân.

Nhìn lại lịch sử phát triển tư tưởng tổ chức của Đảng, nền tảng của công tác dân vận luôn được đặt ở vị trí trung tâm. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định một nguyên lý nền tảng của khoa học chính trị cách mạng: “Lực lượng của dân rất to. Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công” (Hồ Chí Minh, 2011, tr. 232). Kế thừa và phát triển tư tưởng đó, qua các kỳ Đại hội, đặc biệt là từ Đại hội XII (2016) đến Đại hội XIII (2021), Đảng ta liên tục nhấn mạnh yêu cầu phải tiếp tục đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Tại Đại hội XIII, Đảng đã chỉ rõ yêu cầu: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng đối với MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội; thực hiện tốt cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr. 191). Tuy nhiên, trên thực tiễn vận hành cho đến trước thềm Đại hội XIV (2026), cấu trúc tổ chức Đảng trong khối các cơ quan làm công tác quần chúng vẫn bộc lộ những điểm nghẽn mang tính cấu trúc.

Sự tồn tại của mô hình duy trì các đầu mối tổ chức đảng độc lập tại Ban Dân vận Trung ương, cơ quan Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội (Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Tổng Liên đoàn Lao động, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh) trong giai đoạn trước năm 2026 đã cho thấy những giới hạn của nó trong điều kiện phát triển mới. Theo đánh giá từ Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII (2017), bộ máy của hệ thống chính trị vẫn “còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối; hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ” (Ban Chấp hành Trung ương, 2017, Mục I.1). Đối với khối dân vận và mặt trận, sự phân tán về mặt tổ chức cấp ủy đã dẫn đến tình trạng thiếu đồng bộ trong việc thiết kế và triển khai các chủ trương lớn. Cơ chế phối hợp mang tính ngang hàng giữa các đảng bộ, đảng đoàn độc lập này thường tạo ra độ trễ trong việc ra quyết định, dẫn đến sự chồng chéo trong các phong trào thi đua và làm gia tăng nguy cơ “hành chính hóa”, “công chức hóa” hoạt động của các đoàn thể. Sự phân mảnh trong tổ chức đảng không chỉ làm suy giảm khả năng điều phối các nguồn lực (nhân sự, tài chính, cơ sở vật chất) mà còn làm mờ đi tính thống nhất, tập trung trong công tác tham mưu chiến lược về khối đại đoàn kết toàn dân tộc cho Bộ Chính trị và Ban Bí thư.

Nhận thức sâu sắc những “điểm nghẽn” về mặt thể chế và tổ chức bộ máy, bước sang nhiệm kỳ khóa XIV, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thực hiện một cuộc cách mạng thực sự trong tư duy khoa học tổ chức. Sự kiện lịch sử diễn ra vào đầu tháng 10 năm 2026, khi Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV chính thức ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW, đã tạo ra một bước ngoặt về mô hình quản trị. Trong đó, Trung ương đã quyết nghị thông qua chủ trương lịch sử: Đổi tên, sắp xếp và hợp nhất các đầu mối cấp ủy độc lập trong khối này thành “Đảng ủy Dân vận, Mặt trận và các đoàn thể Trung ương” (Ban Chấp hành Trung ương, 2026). Đây không phải là một phép cộng cơ học hay một kỹ thuật hành chính thuần túy, mà là một sự thay đổi mô thức trong phương thức cầm quyền của Đảng. Quyết sách này phản ánh tầm nhìn chiến lược nhằm xóa bỏ tính cắt khúc, thiết lập một trung tâm lãnh đạo, chỉ đạo “một cửa, xuyên suốt” đối với toàn bộ công tác dân vận và các phong trào quần chúng ở cấp vĩ mô. Sự hợp nhất này càng mang ý nghĩa đồng bộ hơn khi đặt trong bối cảnh cuộc cải cách hành chính nhà nước năm 2026 đang diễn ra mạnh mẽ (điển hình như việc tái định hình không gian hành chính địa phương theo hướng tinh gọn triệt để, bãi bỏ cấp huyện, kiến tạo mô hình chính quyền 2 cấp: tỉnh - xã, nhằm tăng cường khả năng phản ứng nhanh của bộ máy) (Quốc hội, 2026).

Xuất phát từ những trăn trở về mặt lý luận và những đòi hỏi bức thiết từ thực tiễn sinh động của đất nước, bài viết này tập trung đi sâu luận giải cơ sở khoa học, tính tất yếu khách quan và những giá trị thực tiễn to lớn của quyết sách chuyển đổi sang mô hình “Đảng ủy Dân vận, Mặt trận và các đoàn thể Trung ương”. Thông qua lăng kính của Khoa học chính trị và quản trị công hiện đại, bài viết hướng đến việc bóc tách những đột phá tư duy của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV, từ đó kiến nghị các giải pháp căn cơ về thể chế, cơ chế vận hành để mô hình tổ chức đảng mới này thực sự phát huy tối đa hiệu năng, trở thành “hạt nhân” quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần đưa đất nước tiến những bước vững chắc trong “kỷ nguyên vươn mình”.

Đổi mới mô hình tổ chức Đảng trong Khối Dân vận và Mặt trận Tổ quốc: Tiếp cận từ Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV - 1

 

2. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới mô hình tổ chức

2.1. Cơ sở lý luận về vị trí, vai trò của quần chúng và nguyên tắc tổ chức của Đảng trong công tác dân vận

Dưới lăng kính của Khoa học chính trị học Mác - Lênin, sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân; nhân dân là chủ thể sáng tạo ra lịch sử và quyết định sự phát triển của xã hội. V.I. Lenin từng khẳng định tính tất yếu của việc xây dựng một tổ chức chính trị tiên phong, có kỷ luật thép và cấu trúc tập trung cao độ để dẫn dắt phong trào quần chúng, biến sức mạnh tự phát thành sức mạnh tự giác. Kế thừa và vận dụng sáng tạo học thuyết đó vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh đã định hình một hệ thống lý luận hoàn chỉnh về công tác dân vận. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh tính toàn diện và tính hệ thống của nghệ thuật vận động quần chúng khi chỉ rõ: “Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân” (Hồ Chí Minh, 2011, tr. 86). Để hiện thực hóa tư tưởng vĩ đại này, bộ máy lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức làm công tác quần chúng không thể tồn tại dưới dạng những mảnh ghép rời rạc, mà phải tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc tập trung dân chủ, bảo đảm sự thống nhất tuyệt đối về ý chí và hành động.

Sự phân mảnh trong cấu trúc tổ chức cơ sở đảng sẽ dẫn đến sự đứt gãy trong quá trình truyền dẫn các chủ trương, đường lối. Theo lý luận về khoa học tổ chức và quản trị công hiện đại, một cấu trúc tổ chức phân tán khó có thể kiến tạo được một phong trào quần chúng thống nhất, rộng khắp và có chiều sâu. Sự đổi mới mô hình tổ chức đảng trong khối Dân vận và MTTQ không nằm ngoài quy luật khách quan của việc hoàn thiện phương thức cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Xuyên suốt các kỳ Đại hội gần đây, từ Đại hội XII với Nghị quyết số 18-NQ/TW (2017) về “một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” (Ban Chấp hành Trung ương, 2017), đến Đại hội XIII với yêu cầu “tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng đối với MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr. 191), và bước sang Đại hội XIV (2026), tư duy lý luận của Đảng đã đạt đến độ chín muồi. Đó là yêu cầu bức thiết phải thể chế hóa khát vọng “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” bằng một thiết chế lãnh đạo tập trung, đủ sức hội tụ mọi nguồn lực xã hội thông qua một đầu mối cấp ủy duy nhất, đại diện cho ý Đảng và lòng dân.

2.2. Cơ sở thực tiễn: Những điểm nghẽn mang tính cấu trúc và yêu cầu giải phóng nguồn lực trong giai đoạn mới

Nhìn lại tiến trình vận hành của hệ thống chính trị trước thời điểm diễn ra Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (tháng 10/2026), bộ máy các cơ quan làm công tác đảng, đoàn thể ở cấp Trung ương duy trì một mô hình cấu trúc đa trung tâm. Ban Dân vận Trung ương, Đảng đoàn MTTQ Việt Nam và Đảng đoàn các tổ chức chính trị - xã hội (Tổng Liên đoàn Lao động, Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh) đều duy trì các cấp ủy và bộ máy giúp việc tương đối độc lập. Dù đã có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp cách mạng, song dưới áp lực của bối cảnh kiến tạo phát triển năm 2026 - đặc biệt khi bộ máy hành chính nhà nước đang thực hiện tinh gọn mạnh mẽ thông qua việc bãi bỏ cấp huyện, chỉ giữ lại chính quyền hai cấp (tỉnh - xã) - mô hình tổ chức đảng đa đầu mối trong khối Dân vận đã bộc lộ những rào cản cản trở sự phát triển, thể hiện qua hai hệ quả tất yếu sau:

Thứ nhất, sự chồng chéo trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và hội chứng “hành chính hóa”. Do thiết chế tổ chức đảng bị phân mảnh, các chủ trương, nghị quyết lớn khi triển khai xuống cơ sở thường bị chia cắt thành nhiều “kênh” khác nhau. Các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động thường được phát động một cách đơn lẻ, thiếu sự tích hợp liên ngành, dẫn đến tình trạng “trăm hoa đua nở” nhưng thiếu chiều sâu thực chất. Thực tiễn này làm gia tăng căn bệnh “hành chính hóa”, “công chức hóa” trong các đoàn thể, nơi cán bộ tiêu tốn quá nhiều thời gian vào công tác báo cáo, hội họp thay vì sâu sát cơ sở. Hệ lụy trực tiếp là sự lãng phí nghiêm trọng các nguồn lực (nhân sự, tài chính, cơ sở vật chất), đồng thời làm suy giảm sức hút của các tổ chức này đối với đoàn viên, hội viên trong môi trường xã hội số hóa ngày càng phức tạp.

Thứ hai, độ trễ hệ thống trong cơ chế phối hợp và sự suy giảm tính nhạy bén chiến lược. Việc giải quyết những vấn đề chính trị - xã hội “nóng”, mang tính đa chiều thường đòi hỏi sự hiệp đồng tác chiến của toàn bộ hệ thống chính trị. Tuy nhiên, trong mô hình cũ, quá trình phối hợp giữa Ban Dân vận với MTTQ và các đoàn thể mang nặng tính chất “chiều ngang”, đòi hỏi nhiều quy trình hành chính, họp bàn thống nhất giữa các cấp ủy, đảng đoàn độc lập. Khoảng trống cơ chế này tạo ra độ trễ đáng kể trong việc nắm bắt dư luận xã hội, làm giảm tính kịp thời, sắc bén trong công tác tham mưu chiến lược cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Trong bối cảnh xã hội công nghệ và an ninh phi truyền thống năm 2026, sự phản ứng chậm trễ của các cơ quan dân vận trước các điểm nóng xã hội là một rủi ro lớn đối với năng lực cầm quyền của Đảng.

Chính từ những cản trở mang tính thực tiễn và những điểm nghẽn thể chế nêu trên, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV đã ra đời như một đòi hỏi tất yếu của lịch sử. Việc thiết lập “Đảng ủy Dân vận, Mặt trận và các đoàn thể Trung ương” chính là “lưỡi gươm” cắt đứt những rườm rà hành chính, hợp nhất sức mạnh lãnh đạo, kiến tạo một trục truyền động trực tiếp, mạnh mẽ và liên thông, qua đó giải phóng tối đa nguồn lực của khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu chấn hưng đất nước.

3. Phân tích mô hình tổ chức mới: Đột phá tư duy và tác động

Sự chuyển đổi mang tính bước ngoặt sang mô hình “Đảng ủy Dân vận, Mặt trận và các đoàn thể Trung ương” theo tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV (năm 2026) không đơn thuần là một phép cộng cơ học về mặt tổ chức bộ máy, mà phản ánh một sự chuyển biến sâu sắc về hệ tư duy quản trị chính trị hiện đại. Trong bối cảnh “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, khi cấu trúc hành chính nhà nước đang trải qua những đợt tinh gọn mạnh mẽ, hệ thống tổ chức Đảng cũng đòi hỏi một sự tự làm mới để duy trì vai trò hạt nhân lãnh đạo. Mô hình tổ chức cấp ủy mới này được thiết kế và vận hành dựa trên nền tảng của nguyên lý tập trung dân chủ, thể hiện qua ba phương diện tác động cốt lõi, mang tính đột phá toàn diện như sau:

3.1. Thống nhất đầu mối lãnh đạo và tối ưu hóa nguồn lực: Từ phân tán đến thiết chế “một cửa - xuyên suốt”

Dưới góc độ khoa học tổ chức và quản trị công, một hệ thống chỉ có thể phát huy sức mạnh tối đa khi nó sở hữu một trung tâm điều phối quyền lực thống nhất, tránh được tình trạng đa cực, phân tán. Thực tiễn vận hành của hệ thống chính trị Việt Nam trước năm 2026 cho thấy, việc duy trì các cấp ủy, đảng đoàn độc lập tại Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đã tạo ra những “lô cốt” hành chính nhất định, làm suy giảm tính đồng bộ trong chuỗi cung ứng chính sách. Quyết sách của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV đã giải quyết triệt để điểm nghẽn này bằng việc chuyển từ mô hình tổ chức phân tán sang mô hình tập trung, liên thông.

Sự ra đời của “Đảng ủy Dân vận, Mặt trận và các đoàn thể Trung ương” có nghĩa là toàn bộ các thiết chế thực hiện chức năng công tác quần chúng từ nay được đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện của một cấp ủy duy nhất ở cấp cơ sở/trên cơ sở tại Trung ương. Sự hợp nhất này loại bỏ hoàn toàn các khâu trung gian mang tính hình thức, thiết lập nên một cơ chế “một cửa - xuyên suốt” trong việc tiếp nhận các Chỉ thị, Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, từ đó cụ thể hóa thành một chương trình hành động chung, thống nhất cho toàn khối. Như tinh thần Đại hội XIV đã xác định, việc đổi mới phương thức lãnh đạo phải gắn liền với mục tiêu “tối ưu hóa mọi nguồn lực, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 112).

Tác động lớn nhất của sự thống nhất này là khả năng tối ưu hóa và luân chuyển nguồn lực. Thay vì mỗi tổ chức (Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Công đoàn...) tự xây dựng và bảo vệ nguồn lực riêng lẻ, nguồn lực về cán bộ, tài chính và cơ sở vật chất giờ đây sẽ được định hướng, chia sẻ và luân chuyển linh hoạt. Các chiến dịch, phong trào trọng điểm quốc gia (ví dụ: các chiến dịch chuyển đổi số toàn dân, phong trào xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu trong điều kiện bãi bỏ cấp huyện) sẽ được phân bổ nguồn lực tập trung, tạo ra những “cú đấm thép” thay vì dàn trải, manh mún. Việc sử dụng chung các nền tảng cơ sở dữ liệu số, hệ thống cơ sở hạ tầng thông tin cũng giúp tiết kiệm đáng kể ngân sách nhà nước, nâng cao hiệu năng hoạt động của khối.

3.2. Khắc phục triệt để căn bệnh “hành chính hóa”: Trở về với bản chất đích thực của công tác quần chúng

Một trong những hệ lụy kéo dài và nhức nhối nhất của mô hình tổ chức cũ là tình trạng “hành chính hóa”, “công chức hóa” tại các cơ quan chuyên trách công tác đoàn thể. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn cảnh báo gay gắt về căn bệnh quan liêu, xa rời quần chúng: “Bệnh quan liêu là nguồn gốc sinh ra tệ tham ô, lãng phí... Cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền chức, cấp thấp thì không sát việc, không sát dân” (Hồ Chí Minh, 2011, tr. 293). Các kỳ Đại hội XII, XIII của Đảng cũng liên tục chỉ ra hạn chế: “Nội dung và phương thức hoạt động của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội có lúc, có nơi chưa thiết thực, hiệu quả, chậm đổi mới, còn tình trạng hành chính hóa” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr. 88).

Việc quy về một đầu mối lãnh đạo cấp ủy chung mang tính đột phá chính là chìa khóa để phá vỡ lớp vỏ bọc hành chính cứng nhắc này. Mô hình Đảng ủy mới giúp các đoàn thể triệt tiêu được những rào cản hành chính nội bộ, giảm bớt đáng kể các cuộc họp liên ngành, các thủ tục xin ý kiến qua lại mang nặng tính hình thức. Quan trọng hơn, một tổ chức Đảng thống nhất cấp Trung ương có đủ vị thế, tầm nhìn và thẩm quyền bao quát để thực hiện giám sát, đánh giá chéo hiệu quả hoạt động của từng tổ chức thành viên. Thông qua bộ tiêu chí đánh giá (KPIs) chung, Đảng ủy có thể rà soát, tinh lọc và mạnh tay cắt bỏ những phong trào thi đua trùng lặp, “bệnh thành tích”, những cuộc vận động không mang lại giá trị gia tăng cho xã hội.

Dưới sự chỉ đạo tập trung, áp lực hành chính nội bộ được giảm tải, tạo không gian và buộc đội ngũ cán bộ chuyên trách của MTTQ và các đoàn thể phải chuyển hướng trọng tâm công tác: Rời khỏi văn phòng để hướng mạnh về cơ sở. Trong bối cảnh quản trị địa phương năm 2026 chỉ còn chính quyền hai cấp, cán bộ cấp Trung ương và cấp Tỉnh phải gắn bó máu thịt, trực tiếp với đời sống, tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân tại các xã, phường, thị trấn. Đây là bước tái định vị bản sắc của công tác dân vận, biến các đoàn thể trở lại thành người đại diện đích thực cho tiếng nói của nhân dân, thay vì đóng vai trò như những “cơ quan hành chính hạng hai”.

3.3. Cộng hưởng sức mạnh trong giám sát và phản biện xã hội: Nâng tầm trọng lượng chính trị và sự cân bằng quyền lực

Giám sát và phản biện xã hội là một trong những chức năng trọng yếu nhất, định hình vị thế chính trị của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, đã được thể chế hóa sâu sắc từ Quyết định số 217-QĐ/TW (Bộ Chính trị, 2013) và Luật MTTQ Việt Nam (Quốc hội, 2015). Tuy nhiên, trên thực tiễn vĩ mô, tiếng nói phản biện của các tổ chức này đôi khi chưa đạt được “sức nặng” cần thiết do sự phân tán về mặt tổ chức. Khi mỗi đoàn thể đưa ra các ý kiến giám sát độc lập đối với các dự thảo luật, chính sách lớn của Nhà nước, các cơ quan soạn thảo đôi khi dễ dàng “cắt lát” hoặc tiếp thu một cách hình thức, đối phó.

Sự đột phá tư duy trong việc hợp nhất thành “Đảng ủy Dân vận, Mặt trận và các đoàn thể Trung ương” đã tạo ra một nguyên lý “cộng hưởng sức mạnh”. Khi Đảng ủy được hợp nhất, chức năng giám sát và phản biện xã hội của cả khối được nâng lên một tầm cao chiến lược mới. Thay vì những ý kiến đơn lẻ, phân mảnh của từng tổ chức đại diện (chẳng hạn như ý kiến riêng rẽ của Công đoàn về tiền lương, của Hội Phụ nữ về bình đẳng giới, của Đoàn Thanh niên về việc làm), mọi phản biện giờ đây được tổng hợp, chắt lọc, và bảo chứng dưới sự lãnh đạo thống nhất của một Đảng ủy quyền lực.

Một bản kiến nghị phản biện xã hội mang danh nghĩa của toàn Khối Dân vận - Mặt trận - Đoàn thể, được thông qua bởi Đảng ủy thống nhất, sẽ mang tính toàn diện, sâu sắc và bao trùm mọi lăng kính xã hội. Trọng lượng chính trị của các kiến nghị này nhờ đó được gia tăng đột phá. Các cơ quan quản lý nhà nước không thể xem nhẹ hoặc bỏ qua một bản phản biện mang tính đại diện cho hàng chục triệu đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân. Sự thay đổi này không chỉ bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân hiệu quả hơn, mà còn thiết lập một cơ chế kiểm soát quyền lực, kiểm soát rủi ro chính sách thực sự vững chắc trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”. Nó đảm bảo rằng mọi quyết sách của Nhà nước đều phải trải qua bộ lọc phản biện khắt khe, minh bạch và dân chủ nhất trước khi được ban hành trong “kỷ nguyên vươn mình”.

4. Kết luận và Đề xuất chính sách

4.1. Kết luận

Từ những phân tích đa chiều dưới lăng kính khoa học chính trị và quản trị công hiện đại, có thể khẳng định rằng việc Trung ương quyết định đổi tên, sắp xếp và hợp nhất để thành lập “Đảng ủy Dân vận, Mặt trận và các đoàn thể Trung ương” theo tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (năm 2026) không phải là một sự lắp ghép cơ học mang tính tình thế. Ngược lại, đây là một bước tiến mang tính cách mạng, một sự “đột phá khẩu” trong khoa học tổ chức bộ máy và phương thức cầm quyền của Đảng. Quyết sách này tuân thủ chặt chẽ quy luật khách quan về sự phát triển của kiến trúc thượng tầng cho phù hợp với cơ sở hạ tầng trong điều kiện mới, thể hiện sinh động nguyên lý “sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất” trong triết học Mác - Lênin.

Bằng việc xóa bỏ tình trạng phân tán, manh mún về mặt tổ chức cấp ủy, mô hình mới đã thiết lập nên một trung tâm quyền lực chính trị thống nhất, tạo ra cơ chế “một cửa - xuyên suốt” trong công tác vận động quần chúng. Sự cộng hưởng sức mạnh từ Ban Dân vận, MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội dưới một ngọn cờ lãnh đạo duy nhất sẽ khắc phục triệt để căn bệnh “hành chính hóa”, tối ưu hóa các nguồn lực quốc gia, và nâng tầm năng lực giám sát, phản biện xã hội. Có thể nói, thiết chế này chính là một bệ phóng vững chắc, kiến tạo một trục truyền động trực tiếp để Đảng khơi dậy và quy tụ sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo ra xung lực khổng lồ đưa đất nước tự tin sải bước trong “kỷ nguyên vươn mình”. Mặc dù vậy, bất kỳ một mô hình tổ chức ưu việt nào trên lý thuyết cũng có thể đối mặt với những rào cản khi đi vào vận hành thực tiễn. Do đó, để hiện thực hóa trọn vẹn các giá trị lý luận và mục tiêu chính trị mà Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV đã đề ra, hệ thống chính trị cần khẩn trương và đồng bộ triển khai các nhóm giải pháp mang tính thể chế, cơ chế và kỹ thuật sau đây.

4.2. Đề xuất, kiến nghị giải pháp thực thi

Thứ nhất, khẩn trương hoàn thiện thể chế vận hành: Ban hành Quy chế làm việc và phân định rõ ràng ma trận thẩm quyền.

Trong khoa học tổ chức, rủi ro lớn nhất của quá trình sáp nhập, hợp nhất là hiện tượng “bình mới rượu cũ” hoặc sự xung đột, chồng chéo thẩm quyền giữa các thiết chế cũ và mới. Sự hình thành của “Đảng ủy Dân vận, Mặt trận và các đoàn thể Trung ương” đặt ra một bài toán phức tạp về cơ chế Đảng lãnh đạo. Theo quy định của Điều lệ Đảng, tại các cơ quan nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội cấp Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư chỉ định thành lập các “Đảng đoàn” (ví dụ: Đảng đoàn MTTQ Việt Nam, Đảng đoàn Tổng Liên đoàn Lao động) để thực hiện chức năng lãnh đạo (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021). Do đó, khi hợp nhất cấp ủy cơ quan (Đảng ủy), cấp có thẩm quyền (trực tiếp là Ban Bí thư và sự tham mưu của Ban Tổ chức Trung ương) cần phải ban hành ngay một Quy định chuyên biệt về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và quy chế phối hợp của Đảng ủy khối mới này.

Văn bản pháp lý này phải phân định rạch ròi lằn ranh thẩm quyền lãnh đạo, ranh giới trách nhiệm giữa Đảng ủy hợp nhất với Đảng đoàn của từng tổ chức thành viên và với Lãnh đạo Ban Dân vận Trung ương. Cơ chế vận hành phải bảo đảm nguyên tắc: Đảng ủy mới đóng vai trò là “nhạc trưởng” điều phối chung về công tác xây dựng Đảng, định hướng tư tưởng, công tác cán bộ nội bộ và tích hợp các phong trào thi đua lớn; trong khi các Đảng đoàn vẫn giữ tính chủ động trong việc cụ thể hóa nghị quyết vào đặc thù của giới mình (Thanh niên, Phụ nữ, Công đoàn, Nông dân). Việc thiết lập một “ma trận phân quyền” khoa học, minh bạch sẽ triệt tiêu hoàn toàn nguy cơ dẫm chân lên nhau, ngăn ngừa sự bao biện, làm thay hoặc đùn đẩy trách nhiệm.

Thứ hai, tiến hành cuộc “cách mạng” trong công tác cán bộ: Tái cơ cấu, tinh lọc và kiến tạo năng lực đội ngũ chuyên trách.

Bộ máy tổ chức dù có tối ưu đến đâu cũng do con người vận hành. Quá trình tinh gọn tổ chức đảng tất yếu sẽ dẫn đến việc dôi dư một bộ phận cấp ủy viên chuyên trách và cán bộ tham mưu tại các cơ quan thành viên. Căn cứ theo tinh thần của Nghị quyết số 26-NQ/TW khóa XII về “tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” (Ban Chấp hành Trung ương, 2018, Mục II), bộ máy mới đòi hỏi một cuộc thanh lọc và tái cơ cấu nguồn nhân lực cực kỳ khắt khe.

Đảng ủy mới cần thiết lập một cơ chế đánh giá năng lực đa chiều để lựa chọn những cán bộ thực sự tinh hoa vào bộ máy tham mưu chung. Đặc biệt, trong bối cảnh hành chính nhà nước năm 2026 đã bãi bỏ cấp huyện, cán bộ cấp Trung ương phải có tư duy chiến lược cực tốt để ban hành chính sách chỉ đạo thẳng xuống cấp cơ sở (xã/phường). Điều này đòi hỏi cán bộ dân vận trong mô hình mới không thể chỉ am hiểu đơn tuyến (ví dụ chỉ biết về công tác thanh niên hay công tác phụ nữ), mà phải sở hữu tư duy quản trị tổng hợp, am hiểu đa lĩnh vực. Họ phải có khả năng đọc hiểu các báo cáo kinh tế vĩ mô, nắm bắt dòng chảy của công nghệ số, thấu hiểu tâm lý học đám đông và có kỹ năng thiết kế chính sách liên ngành. Chỉ có một đội ngũ cán bộ được trang bị phông nền tri thức đa nhiệm như vậy mới có đủ năng lực để đưa Đảng ủy mới vận hành đúng quỹ đạo, thực sự đóng vai trò là bộ tham mưu chiến lược về công tác đại đoàn kết toàn dân tộc cho Trung ương.

Thứ ba, chuyển đổi số toàn diện: Xây dựng nền tảng dữ liệu lớn (Big Data) và hệ thống “Lắng nghe xã hội” trong công tác dân vận.

Trong thời đại kỷ nguyên số, dữ liệu là mạch máu của nền quản trị quốc gia. Phương thức lãnh đạo của Đảng không thể đứng ngoài công cuộc chuyển đổi số. Việc ứng dụng công nghệ thông tin không chỉ dừng lại ở việc số hóa văn bản hành chính, mà phải tiến tới xây dựng một hệ sinh thái “Đảng bộ số” thực thụ. Đảng ủy Dân vận, Mặt trận và các đoàn thể Trung ương cần khẩn trương phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ để xây dựng một Trung tâm Dữ liệu lớn dùng chung cho toàn khối.

Cơ sở dữ liệu này phải tích hợp, liên thông chéo thông tin của hàng chục triệu đoàn viên, hội viên từ tất cả các tổ chức chính trị - xã hội, đồng thời kết nối đồng bộ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (Đề án 06). Dựa trên nền tảng dữ liệu lớn này, Đảng ủy mới cần tích hợp công nghệ Trí tuệ nhân tạo để xây dựng hệ thống phân tích, đo lường dư luận xã hội. Đại hội XIV đã nhấn mạnh yêu cầu: “Chủ động nắm bắt, dự báo chính xác tình hình dư luận xã hội, diễn biến tư tưởng của các tầng lớp nhân dân để có quyết sách kịp thời” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 154). Bằng công cụ kỹ thuật số, Đảng ủy có thể quét và phân tích dữ liệu theo thời gian thực để nhận diện sớm các xu hướng tư tưởng, những điểm nghẽn bức xúc của nhân dân từ cơ sở (cấp xã). Đây là công cụ kỹ thuật mang tính sống còn, giúp mô hình tổ chức Đảng mới đưa ra các quyết sách “trúng và đúng”, nâng cao năng lực phản ứng chính sách, ngăn ngừa từ sớm, từ xa mọi nguy cơ khủng hoảng chính trị - xã hội, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong một thế giới đầy biến động.

Tài liệu tham khảo

Ban Chấp hành Trung ương. (2017). Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ban Chấp hành Trung ương. (2018). Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ban Chấp hành Trung ương. (2026). Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 08/10/2026 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới. Đảng Cộng sản Việt Nam.

Bộ Chính trị. (2013). Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI thông qua, Đại hội XIII tiếp tục thi hành). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập 1). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập 1). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

Hồ Chí Minh. (2011). Toàn tập (Tập 5). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

Quốc hội. (2015). Luật MTTQ Việt Nam (Luật số 77/2015/QH13). Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

Quốc hội. (2026). Nghị quyết của Quốc hội khóa XVI về sắp xếp, tinh gọn các đơn vị hành chính và đổi mới tổ chức chính quyền địa phương. Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

THEO LÊ HÙNG

Học viện Chính trị khu vực I

ThS. ĐINH QUANG MINH

Học viện Báo chí và Tuyên truyền - Tạp chí luật sư VN

https://lsvn.vn/doi-moi-mo-hinh-to-chuc-dang-trong-khoi-dan-van-va-mat-tran-to-quoc-tiep-can-tu-nghi-quyet-hoi-nghi-trung-uong-4-khoa-xiv-a180804.html

Tin liên quan

Nghị quyết về tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp và đổi mới căn bản, toàn diện công tác cán bộ trong kỷ nguyên mới - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Ngày 20/10, Quốc hội thảo luận nhiều dự án luật thuộc lĩnh vực tư pháp, kinh tế - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Ba nghị quyết về xây dựng Đảng: Lấy kết quả thực tiễn làm thước đo - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Bàn về biện pháp cưỡng chế “phong tỏa tài khoản” trong tố tụng hình sự - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Tập trung chỉ đạo quyết liệt, phấn đấu đạt mức cao nhất các chỉ tiêu - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Bộ Công an hướng dẫn cách xác nhận khi sổ đỏ ghi số chứng minh nhân dân cũ - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Bảo vệ quyền tác giả của nhà báo trên không gian mạng: Thực tiễn xét xử và giải pháp hoàn thiện - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Xây dựng Văn hóa Đảng: Gốc rễ để Đảng thật sự là đạo đức, văn minh - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Chuyển đổi số trong hoạt động cơ quan nhà nước và cung cấp dịch vụ công: Chuẩn hóa khung năng lực số cho lãnh đạo, quản lý - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Hoàn thiện pháp luật về an ninh theo hướng quản lý dựa trên rủi ro, rõ trách nhiệm - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Tuyên truyền sâu rộng các chỉ thị, nghị quyết mới của Đảng - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Xây dựng đội ngũ có bản lĩnh chính trị, tư duy chiến lược, năng lực dự báo, tổng kết thực tiễn - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Thủ tướng: Nâng cao đồng bộ 7 yếu tố năng lực điều hành của Chính phủ - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Chọn đúng người, giao đúng việc - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Đồng thuận có đủ để tạo ra quyết sách tốt? - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Tòa Hành chính TAND TP. Hà Nội hoàn thành “90 ngày giải quyết đơn, án” trước hạn - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Quốc hội thông qua Luật sửa đổi 3 luật về ngân hàng, phòng chống rửa tiền - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI Nghị trường trách nhiệm, quyết sách kiến tạo - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Nâng trách nhiệm nhà xuất bản với nội dung về lịch sử, chủ quyền - Cập nhật: 26/02/2025 09:38
Quốc hội bổ sung 3 nội dung, làm việc thêm ngoài giờ tại Kỳ họp không thường lệ - Cập nhật: 26/02/2025 09:38